Hồi ức lính

Canh giữ tù binh

Sau khi đánh xong Anlong veng. Tiểu đoàn chúng tôi lại quay trở về phum Choăm Sere lập doanh trại. Lính được gần dân như cá gặp nước. Lính đi tung tăng khắp phum đổi gà, đổi thuốc....
57
Canh giữ tù binh

Thời đó dân rất quý bộ đội, họ mời uống thốt nốt thỏa thê. Từ phum Kămpa rạ cách D bộ 13km vẫn có lính bộ binh C5 lác đác đi lẻ về đây nhận hàng quân nhu mà không cần trinh sát dẫn đường. Không khí hòa bình tràn ngập nơi nơi, những đêm rom vông sập xình trong phum. Các chú lính Việt ngày đầu còn bỡ ngỡ, tay chân cứng quèo, chỉ vài buổi đã nhuần nhuyễn theo tiếng trống tiếng nhạc, ánh mắt đã tự nhiên đưa tình với gái góa Khmer. Dân tin bộ đội Việt Nam, đôi khi còn báo cho biết địch vào phum để bắt. 

Một hôm, Đại đội 6 bắt được hai tên địch, chỉ huy tiểu đoàn giao cho trinh sát chúng tôi canh giữ. Theo lời khai của chúng thì một thằng là y tá, một thằng là anh nuôi. Hình như khu vực này không có lính chủ lực bộ binh hay sao? toàn bắt được lính hậu cần, chẳng biết đánh đấm gì. Anh Năng tiểu đội trưởng trinh sát trong khi họp tiểu đội thường hay nhắc nhở: 

Các đồng chí phải cảnh giác trước tình hình địch, nhưng cũng phải thân thiện với tù hàng binh. Nên đối xử tốt với chúng, không được có thái độ bắt nạt hoặc hành hạ tù binh. Khi cảm hóa được rất có lợi cho chúng ta….

Trong khi làm lán trại lại thêm công việc canh giữ tù binh, thật là vướng víu. Chúng tôi trói tạm hai thằng vào hai gốc cây gần tiểu đội rồi tập trung đào chiếc hầm thùng. Đất đồi toàn sỏi gan gà, cuốc nhát nào tóe lửa nhát đó, mồ hôi túa ra nhễ nhại, đào quốc mãi mới được cái hố nho nhỏ. Hai tên tù binh nhìn chúng tôi đào hố, nét mặt trở nên căng thẳng, chúng sợ hãi tột độ, nói những câu tiếng Miên thống thiết van xin. Hóa ra chúng tưởng chúng tôi đào huyệt chôn sống chúng nên rất sợ hãi.

– Bố mày làm nhà! Mày có hiểu nhà là gì không? Khò khò như thế này này.

Khánh Sếch vừa nói vừa ra hiệu bằng hình ngữ nguyên thủy, hai tay áp vào má, nằm xuống đất giả vờ gáy khò khò. Thanh Phun Rô chỉ vào phum rồi hai tay chắp theo hình tam giác đặt lên đầu lắc lư, lắc lư.. Lúc đó hai tên tù binh mới hiểu. À thì ra tụi lính Việt Nam làm nhà. Rồi chúng lại yên tâm chăm chú dõi theo công việc của chúng tôi, cả hai tên vẫy chúng tôi lại ra hiệu có ý muốn giúp một tay. Tiểu đội phó Khoa còn lưỡng lự, Trần Hải đế vào:

– Không lo đâu, ta cầm súng nếu có biểu hiện gì bắn luôn.

Quả nhiên, công hiệu thật, hai con rô bốt nhãn hiêu Khmer Rouge hoạt đông trơn tru. Chúng đào theo hàng lối, hết lớp này xuống lớp kia, vuông thành sắc cạnh theo ý muốn của chúng tôi. Có thêm bậc tam cấp bằng đất vuông vắn đi xuống, vừa rộng vừa đẹp lại phẳng phiu, đã thế chúng còn lấy vồ đầm cho nền đất bóng loáng lên.

Buổi chiều anh Năng đi đánh đô mi nô ở trung đội thông tin về nhìn thấy hầm đã đào xong mừng ra mặt: 

– Tôi biểu dương các đồng chí, đã chấp hành mệnh lệnh, cùng nhau đoàn kết tiến bước đào hầm, nâng cao quết tâm để hoàn thành nhiệm vụ.

Anh Năng tiểu đội trưởng là người Hoài Nhơn, Bình Định da trắng mặt đầy trứng cá, mắt lươn, tóc xoăn có cái đuôi dế sau ót, khi nói toàn thấy mệnh lệnh, mà giọng nói hơi nhỏ nhưng cố gắng gằn lên cho có uy lực, thành ra có vẻ như bị hụt hơi. Anh thường giao lưu với các hàng ngũ cán bộ, thú vui là đánh đô mi nô, tiến lên và nhậu nhẹt. Anh rất hay la cà ở các trung đội trực thuộc hoặc ở khu vực hậu cần vì ở nhà anh đã lập trình sẵn cứ thế mà trôi chảy.

Kể ra cũng rất nể phục một người anh cán bộ biết cách quản lý tiểu đội như anh. Anh chỉ xuất quân khi nào có chiến dịch mở ra, Anh theo cán bộ tiểu đoàn để nhận mệnh lệnh về giao cho tiểu đội. Tôi ít thấy anh cầm địa bàn đạp rừng như chúng tôi, không sao! Người chỉ huy là thế! một người biết lo bằng cả kho người làm mà.

Hai tên tù binh trở thành thành viên trong tiểu đội chúng tôi, nhưng vẫn phải trói, đêm vẫn phải ngồi gác chúng. Ngày chúng vẫn hỗ trợ chúng tôi làm hầm thùng. Cứ chặt được cây to là chúng tôi dẫn chúng đi vác về, cả một đống cây kè hầm đồ sộ mà chúng không hề mảy may đau vai, nhức xương.

Việc chẻ tre, tuốt mây, đan lát chúng làm rất thuần thục, hai tên tù binh cũng được ưu đãi rất đặc biệt, hai thằng được một chậu thau cơm to, lại được một lon thịt hộp xay tiêu chuẩn này nằm mơ lính chúng tôi cũng không có, thuốc lá thỉnh thoảng chúng tôi vấn cho một điếu, nước rót đến tận miệng, đi ngủ có người canh, đi cầu có kẻ đứng gác…

Có lẽ tù binh như bọn này sướng hơn cả sỹ quan. Vì công tác binh vận nên các tù binh trong thời kỳ này được ưu đãi, tôi thấy các thủ trưởng cũng đối xử rất tốt với chúng. Hồi đầu giải phóng, chúng tôi nghỉ chân ở một phum gần cầu cháy, gặp ngay tốp lính D9 trong đó có Thắng Mỳ là đồng hương chúng tôi đang áp giải một đám tù binh bắt được ở dãy núi Tà Ben, tay bị trói đang ngồi dưới chân nhà sàn.

Ông Cường Chăn Vịt trung đoàn trưởng cùng hai lính vệ binh phóng xe Jeep đỗ xịch bên đường, chẳng thèm hỏi thăm lính lấy mội câu, vội bước xuống xe bắt tay vỗ vai, nói chuyện thân mật với tụi tù binh như anh em, rồi bảo các lính phải chăm sóc chu đáo, Thắng Mỳ ngồi trên cầu thang nhà sàn nóng mắt nói vọng xuống: 

– Cán bộ đ.é.o gì mà không thèm hỏi thăm lính tráng lấy một câu, có mệt không? Đã ăn gì chưa? Đi bắt tay với mấy thăng tù binh thua trận, thật là buồn cười. 

– Cậu tên là gì? Ở đơn vị nào? Cậu sẽ biết tay tôi.

– Tôi binh nhất, lính bộ binh D9, còn nấc cuối nào nữa không thủ trưởng?

Kể ra thủ trưởng bắt tay thân mật với tù binh không sao, rất nhân ái nhưng ít nhiều cũng có lời biểu dương tinh thần lính tráng một chút để cho chúng khỏi phải tủi thân. Đằng này ông chẳng nói gì, vô tình đụng đến lòng kiêu hãnh vời vợi của thằng lính tầng móng, làm gì chúng chẳng nổi xung lên.

Hai tên tù binh quấn quýt bên chúng tôi, chúng làm giúp cho chúng tôi rất nhiều công việc, có nhiều lần cho chúng đi tắm, tiện thể gánh về một võng nước cho tiểu đội, chúng tôi tay xách súng rễu rện dắt hai tù binh vào phum không cần trói. Chúng vui lắm, chúng còn biết cách xin thuốc của dân mang về cho tiểu đội sài. Ông Phú Râu nhìn hai tên tù binh gật gù nhận xét:

– Có tù binh, lính trinh sát tụi bay khỏe ra. Căn hầm thùng lại to nhất tiểu đoàn bộ hỉ.         

– Chúng em tự làm, đâu dám bắt tù binh lao động khổ sai, thủ trưởng đùa chúng em rồi. 

– Tụi mi tưởng choa không biết sao? Phải cảnh giác đấy nhé, địch chứ không phải là dân mô. 

Một hôm xe ô tô của trung đoàn chở hàng quân nhu về tiểu đoàn, chúng tôi được cấp một bao tải sữa bột, chia về các bộ phận, lính vui khôn kể siết bốc lấy bốc để. Tôi lấy nước nóng pha một chậu sữa uống trước, rồi mang đến mời hai thằng tù binh, hai thằng này thích quá uống luôn.

Vị sữa không tệ chỉ có điều pha kiểu gì cũng không tan hết cục, nhưng vẫn ngon. Thỉnh thoảng những cục sữa nằm trên hàm tan dần xuống cổ họng ngọt lịm. Hai thằng khoái chí cười phô hàm răng đen xì, điểm ít cặn sữa nhìn vừa vô duyên vừa tức cười. Một lúc sau thằng y tá ôm bụng đấm đít mặt nhăn nhó, rồi thằng anh nuôi cũng vậy nó ra hiệu đi cầu. Tôi dẫn chúng ra sau nhà trinh sát, gọi thêm Khánh Sếch cảnh giới, lúc này bụng tôi sôi lên ùng ục, cũng nhanh tay tháo quần. 

Khánh cười:

– Bụng dạ địch, ta gì mà yếu thế, tao uống mấy cốc rồi có sao đâu. Vừa dứt câu mặt Khánh Sếch nghệt ra, cũng nhanh chân ngồi một góc. Bốn thằng bốn góc như bốn bức tượng trấn yểm phong thủy, chẳng nói chẳng rằng, mắt ngây dại chờ đợi từng đợt sóng trào, địch ta đều như nhau tồng ngồng phơi bày phồn thực, mặc cha đời.. Lúc này còn xấu đẹp gì nữa. 

Ngày hôm sau, hai tên tù binh chia tay chúng tôi theo xe lên trung đoàn về trại tù binh, chúng cảm động rơm rớm nước mắt, tuy một tuần mà đã có cảm tình với nhau. Chúng tôi bắt tay vỗ vai tuy không biết tiếng mà như hiểu được lòng nhau.

Chúng tôi nhìn theo cho đến khi khuất bóng tận cuối phum. Lòng thầm mơ ước chúng cải tạo cho tốt, thay thế chúng tôi sớm ngày nào hay ngày ấy để đoàn quân chúng tôi được nhanh chóng về nước, để được chiến đấu trên mảnh đất Việt Nam dù có phải hi sinh chúng tôi cũng vô cùng thỏa mãn.                  

Vài tháng sau, D8 chúng tôi không còn yên ổn, chúng đã tập kích vào C5 trên Kăm parạ làm bị thương mấy thằng đồng hương. Rồi phục kích làm hi sinh hai cán bộ đại đội ở cuối phum Kăm tin. Khi vận động lên ứng cứu anh Hà Huy Lan, thấy anh Huyên hi sinh, cạnh đó là một tên địch bị hạ gục mặt sấp xuống vũng bùn, nhìn kỹ lại chính là tên tù binh anh nuôi mà chúng tôi đã từng canh giữ. Hắn bị du kích khum giềng bổ thêm một nhát cuốc nữa, rồi kéo xác xềnh xệch vào rừng xanh.

Xem thêm: Tù binh PaRa

Nguyễn Tuấn

Hồi ức lính

Tù binh PaRa

Đơn vị tôi có đợt cấp quân trang cho lính, tôi nhận được một quần xoavios tương đối đẹp, nhưng lại phải bị nhận cái áo phin màu đen chết tiệt, đen như quạ, đen như áo đen của lính Khmer đỏ, có điều vẫn có hai túi ngực, đỉa đeo cầu vai như quân trang xuân hè của bộ đội chính quy.
53
Tù binh PaRa

Nhìn lại các trung đội khác cũng có vài chiếc giống của mình, không những vậy còn có thêm nhiều màu sắc khác nhau, màu vàng úa, màu xanh cổ vịt, màu xám tro v, v. Tôi cầm áo lên phàn nàn với Khoa tiểu đội trưởng :

– Ông xem, thằng đi đầu mặc bộ này đi truy quét, lính mình tưởng địch, nó bắn nhầm thì tôi bỏ mẹ à?

– Thì mặc loanh quanh trong doanh trại hoặc lúc tăng gia đào hào thôi, chớ có bước ra khỏi hàng rào đơn vị là được.

Rõ khổ, là lính chiến quân trang lung tung, có thằng mặc quân phục lính binh đoàn Hensamrin vàng úa như da bò, có thằng đội mũ sắt VNCH, giày bố đen, hoặc giày ghệt cao cổ của mỹ, rồi cả áo ngụy binh ngầu ngầu, chẳng biết đâu mà lần. Lính chiến khổ, quân nhu thiếu thốn khi diệt được địch, lột bừa quần áo của nó rồi khoác phứa lên người.

Một hôm tôi dẫn lính C5 đi truy quét, vừa bước chân đến đầu phum campa rạ đã thấy mấy người dân nét mặt hớt hơ, hớt hải chỉ chỏ về phía giữa phum, miệng lắp bắp : 

– Tà hiên, Tà hiên! 

Quái lạ, nếu là địch thì dân hay gọi là pol pot, là bộ đội thì gọi là coong tóp, đây lại gọi là “lính” nghe có vẻ không đúng trong cách gọi. Hơn nữa phum này nổi tiếng theo địch, C5 đã từng hi sinh nhiều người tại phum này. Sao họ lại báo có địch cho mình? Đại đội cho triển khai bao vây quanh phum. Nhìn từ xa đã thấy ba bóng áo xanh, đội mũ phớt cụt rộng vành, sắc phục khác lạ, chúng đang lấy gạo và bắt gà của dân, một thằng leo lên cầu thang bỏ súng ngoài cửa, vào hẳn trong nhà.

Cả đơn vị háo hức chờ lệnh nổ súng, không ngờ hai thằng dưới đất bất ngờ vượt vòng vây phóng thẳng vào rừng bỏ chạy, quăng hết gà vịt, lương thảo. Chúng tôi nổ súng nhưng không chết tên nào, còn lại một tên trên nhà sàn, chúng tôi vây chặt không cho thoát thân.

Một lúc sau cửa mở, một người đàn bà tóc tai rối bù, váy xộc xệch, mặt tái mét, hớt hải xô liếp chạy xuống cầu thang làm rớt cây súng R15 của tên địch. Chúng tôi tiếp cận gần hơn hô: “Đầu hàng!”

Biển Đen liều mạng lao lên nhà sàn lôi cổ nó xuống, bộ quân phục xanh rờn, quần nhà binh túi bắt gà giày da cao cổ, thật dễ ghét. Nhìn bộ quần áo này yếu lính và đểu cáng làm sao. Sau khi lấy dây dù trói kỹ càng, chúng tôi thi nhau đấm đá, đấm thẳng vào mặt vào mũi, không phải ghét tên địch hà hiếp dân lành, cũng không phải lí do nó là địch… mà chỉ đơn giản lính ghét bộ quần áo nó đang mặc trên người.. quá đẹp, quá ngầu.

Mọi trang bị trên người nó hơn hẳn lính bộ binh chúng tôi, phải đánh cho bõ ghét. Đại đội Trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trợn mắt ngăn cản đám lính hung hãn, anh dùng cả thân mình che chở cho tên tù binh mà thằng Thành Lùn vẫn còn cố xong phi thêm hai cước vào lưng.

Chúng tôi giải tù binh xuống phum Căm Tin, nơi ấy có ổ phục kích của C5, gửi lính phục kích đưa tù binh về tiểu đoàn bộ khai thác. 

Ba ngày sau chúng tôi truy quét trở về, hỏi thăm về tên địch, được biết nó là lính Para một sắc lính không biết của ai đào tạo. Vùng chúng tôi hoạt động hầu như không có sắc lính này, duy nhất xuất hiên tại phum campa rạ có một lần.

Tôi xuống trung đội vận tải xem thằng tù binh, đồng thời muốn ngắm lại bộ quân phục đẹp đẽ của nó, nhưng chỉ thấy một thằng miên tóc xoăn mặt mũi bầm tím mặc cái quần mất ống của quân tình nguyện Việt Nam và cái áo không tay trên túi ngực có thêu hàng chữ C5D8E29F307. 

Nguyễn Tuấn

Lịch sử Việt Nam

Cả một trung đoàn quân VNCH ra đầu hàng trong mùa hè đỏ lửa 1972

Ngày 2/4/1972 tại căn cứ Tân Lâm - Quảng Trị, Trung tá Phạm Văn Đính cùng trung đoàn 56 bộ binh VNCH rời khỏi công sự đầu hàng QGPMN. Đây là một cơn chấn động tinh thần lớn đối với Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh VNCH nói riêng và toàn bộ QLVNCH nói chung.
55
Cả một trung đoàn quân VNCH ra đầu hàng trong mùa hè đỏ lửa 1972

Trước sự tấn công như vũ bão của Trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Bông Lau) – Quân giải phóng. Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 Bộ binh Quân lực VNCH đã lên hệ thống truyền tin để xin được gặp người chỉ huy cao nhất của Đoàn Bông Lau, xin ngừng bắn để treo cờ trắng dẫn toàn bộ binh sĩ của Trung đoàn ra đầu hàng.

Sự kiện này đã được cựu chiến binh Hồ Văn Duyệt kể lại như sau:

Hồi đó tôi là giáo viên trường Sĩ quan Pháo binh được phái đi phục vụ cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tôi được đi cùng trung đoàn pháo binh 38, chi viện cho sư đoàn 304, tấn công căn cứ Carroll do trung đoàn 56, sư đoàn 3 đóng giữ.

Ngày 2/4/1972, đồng chí Trung đoàn phó Pháo binh chỉ huy đài quan sát phải lên Sở Chỉ huy Sư đoàn họp, ủy nhiệm cho tôi thay thế tiếp tục thực hiện kế hoạch hỏa lực. Khoảng đầu giờ chiều hôm ấy, một chiến sĩ trực vô tuyến điện báo cáo với tôi:

“Có một tên yêu cầu gặp thủ trưởng!”, tôi bảo: “Nó phá rối đấy chứ gặp gì, mặc kệ nó”. Một lát sau, chiến sĩ lại báo cáo “Tên đó xưng là Trung tá Chỉ huy trưởng xin gặp Sao Hôm”. Sao Hôm là mật danh của đài quan sát chỉ huy.

Theo cách xưng hô, tôi đoán là một viên sĩ quan nên cầm máy. “A lô! Tôi là Sao Hôm đây, các anh cần gặp có việc gì?”, phía bên kia trả lời: “Tôi, Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 xin được gặp cấp chỉ huy cao nhất. Xin ông cho biết danh tánh và cấp bậc”.

Nghe câu nói đó, tôi nghĩ anh này chắc được huấn luyện rất chính quy ở bên Mỹ. Riêng tôi, chưa từng dự kiến đối thoại với địch nên lúng túng không biết xưng hô thế nào. Tôi trả lời Trung tá Đính: “Chúng tôi không có thói quen xưng hô tên tuổi cấp bậc với đối phương trong lúc tác chiến, anh gọi tôi là Sao Hôm là được rồi.

Tôi không phải là cấp chỉ huy cao nhất nhưng có thể trả lời những gì anh cần hỏi, nếu quá quyền hạn tôi sẽ chuyển đạt lên cấp trên”. Ông Đính nói: “Tôi đề nghị các ông dừng hỏa lực trong một giờ, chúng tôi muốn thương lượng”.

Tôi dùng điện thoại báo cáo lên cấp trên, Sư đoàn điện xuống chỉ đạo: “Anh có thể gọi họ là ông, anh bảo họ đầu hàng đi chứ còn thương lượng cái gì”. Tôi lên vô tuyến điện trả lời viên Trung tá Chỉ huy trưởng:

“Tôi nghĩ đề nghị của ông không thích hợp, các ông đã mất Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn rồi. Lữ đoàn thiết giáp lên giải vây cho các ông đã bị đánh tan tác, chạy lui rồi. Đông Hà cũng sắp mất. Chắc ông cũng đã nghe tiếng súng máy gần kề rồi. Các ông hạ vũ khí ngừng chiến đấu là tốt nhất. Các ông nên đầu hàng đi”.

Viên trung tá trả lời: “Có đầu hàng cũng phải thảo luận các điều kiện chứ”. Tôi nói: “Không cần thảo luận đâu! Ông có biết chính sách 10 điểm của mặt trận giải phóng miền Nam không?”.

Đính trả lời: “Tôi có biết”. Tôi bảo: “Chúng tôi chấp hành đầy đủ chính sách của 10 điểm đó”. Đính bảo rằng: “Nhưng tôi cũng cần triệu tập các sĩ quan dưới quyền, họ chỉ huy từng bộ phận rải rác khắp nơi và cần thời gian để họp”.

Chỉ huy Sư đoàn vẫn tập trung để theo dõi cuộc trao đổi của tôi với viên Trung tá chỉ huy trưởng, đồng thời gọi điện thoại xuống để hướng dẫn cho tôi một số thủ tục. Tôi nói với Trung tá Đính:

“Vậy thì tôi đồng ý ngừng hỏa lực trong vòng 1 giờ theo yêu cầu của ông. Còn yêu cầu của chúng tôi là ông cho kéo cờ trắng lên cột cờ trung tâm của căn cứ trước khi ngừng hỏa lực. Sau khi ngừng hỏa lực được 30 phút, một nửa số quân của ông phải ra khỏi công sự, lên mặt đất, không mang theo vũ khí”.

Ngay sau đó, Ðính tập hợp 13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định. Ðính mở lời trước, cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Căn cứ không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của quân giải phóng. Sau đó Ðính nói ra ý nghĩ thật của mình:

“Nếu tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để có được một chiến thắng, thì cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây giờ phải tự lo lấy thân.” Tiếp theo, Ðính nói về đề nghị của chỉ huy quân giải phóng.

Sau đó ông hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu, hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ý tiếp tục đánh thì ông sẽ nghe theo ý họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 56 lên tiếng đòi đánh đến cùng. Số sĩ quan còn lại yên lặng không ý kiến.

Trước sự yên lặng của các sĩ quan, Ðính nói về gia đình của họ, về viễn cảnh những vui mừng khi họ được sống sót trở về. Tất cả đều đồng ý đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Mãn không bỏ phiếu.

Với quyết định đã được đồng thuận, Ðính đi qua lô cốt của hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng Thiếu tá Joseph Brown và Trung tá William Camper không đồng ý. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp có trong căn cứ đánh bung ra vòng đai mở đường máu. Ðính không chịu, nói vô ích.

Lúc này, có một máy bay trực thăng C-47 trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc 2 viên sĩ quan Mỹ cùng với khoảng 30 binh sĩ không chịu đầu hàng muốn đi theo 2 sĩ quan cố vấn. Khi chiếc trực thăng cất cánh thì cờ trắng đầu hàng đã bay trên căn cứ Carroll.

Căn cứ Carroll trước năm 1968
Căn cứ Carroll trước năm 1968

Việc quyết định đầu hàng của Trung tá Đính đã cứu mạng được hơn 1.500 thuộc cấp của mình và hàng ngàn binh sĩ cả hai bên.

Như vậy, Trung đoàn 56 Quân đội Sài Gòn là tù binh. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho họ được “nâng cấp” trở thành đơn vị phản chiến, được đối xử như những người lính phản chiến tự nguyện rời bỏ chính quyền Sài Gòn trở về với chính nghĩa. Những quân nhân này được bố trí phục vụ công tác và lao động ở các đơn vị hậu cần của quân đội nhân dân VN.

Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trung tá Phạm Văn Đính được ra Hà Nội, nhận một số công việc liên quan đến công tác binh vận và công tác địch tình. Trung tá Ðính có lương và nhà ở, và làm việc như một sĩ quan văn phòng ở Hà Nội. Sau này, sau khi VNCH thất thủ, Ðính đã phục vụ trong công tác tuyên truyền cho Việt Nam. Một trong những công tác là làm giảng viên trường Pháo binh; giảng viên ở những trại cải tạo quân đội VNCH và trở về Huế với gia đình. Ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Xem thêm: Quảng Trị “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 – Mỗi tấc đất là một cuộc đời