Lịch sử Việt Nam

Máy bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang – Operation Arc Light

Máy bay B-52 được ví như Pháo Đài Bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang có sức tàn phá khủng khiếp hơn bất cứ vũ khí nào được sử dụng trong trong chiến tranh Việt Nam.
403
Máy bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang – Operation Arc Light

Trong chiến tranh Việt Nam, những chiếc máy bay B-52 được sử dụng để tấn công các mục tiêu của quân Giải Phóng ở hậu cứ, những nơi tập trung quân, kho tàng, … và nó còn được dùng cả trên chiến trường ở Lào và Campuchia để tấn công các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.

Ngày 17 tháng 2 năm 1965, những chiếc máy bay B-52 thuộc phi đội số 2 và số 320 đã được triển khai đến căn cứ Andersen AFB thuộc đảo Guam. Ngày 17 tháng 2, máy bay B-52 đã thực hiện cuộc tấn công đầu tiên ở Việt Nam vào khu vực tỉnh Bình Dương nằm ở phía Bắc Sài Gòn thuộc tỉnh Bình Dương. Trước đó, không quân Mỹ đã sử dụng máy bay chiến thuật ném bom nhiều lần vào khu vực này nhưng không đạt kết quả.

Khi thi hành nhiệm vụ đầu tiên này, Không Quân Mỹ đã gặp thiệt hại nặng khi hai chiếc máy bay B-52 va vào nhau khi đang tiếp dầu trên không ở vùng biển Thái Bình Dương và đều rơi xuống biển. 8 trong số 12 thành viên của đội bay thiệt mạng.

Sau cuộc ném bom, báo chí trong nước Mỹ cực lực phê phán khi cho rằng chính phủ đã “đập con ruồi bằng búa tạ”. Trong khi đó, tướng Westmoreland lại tỏ ra hài lòng khi cuộc ném bom đã gây thiệt hại nặng và ngăn chận được quân Giải Phóng mở cuộc tấn công vào Sài Gòn. Sau đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara đã giải thích trước Quốc Hội về lý do sử dụng máy bay B-52 ở đợt ném bom này:

Chúng ta đều biết rằng Việt Cộng đã lợi dụng các cánh rừng rậm ở Việt Nam để làm nơi trú ẩn và thiết lập căn cứ. Rừng rậm và dày đền nổi không thể nhắm bắn mục tiêu chính xác. Phương thức hiệu quả nhất đó là ném bom và máy bay B-52 rất thích hợp với công việc này. Các tướng lĩnh quân đội ở Việt Nam cho rằng các cuộc ném bom bằng B-52 đã mang lại kết quả rất tốt và đã chứng tỏ hiệu quả. Tôi cho rằng việc ném bom này nên tiếp tục.

Trong vài tháng đầu tiên, Chính phủ Mỹ kiểm soát việc sử dụng máy bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang rất chặt chẽ. Các mục tiêu ném bom phải được sự phê chuẩn của chính phủ Mỹ hoặc Nhà Trắng. Phái Bộ Chỉ Huy Quân Đội Mỹ MACV ở Việt Nam sẽ gửi yêu cầu ném bom bằng B-52 đến Bộ Chỉ Huy Hạm Đội Mỹ ở Thái Bình Dương – Commander-in-Chief, US Pacific Fleet ( CINCPAC ) và Bộ Chỉ Huy Không Quân Chiến Lược – Strategic Air Command ( SAC ). Sau khi CINPAC đồng ý, cơ quan SAC mới lệnh cho máy bay B-52 ném bom. Về sau, do danh sách mục tiêu và các yêu cầu ném bom ngày càng nhiều, nên sự chấp thuận cũng dễ dàng hơn. Những có những sự giới hạn mà chiến dịch Ánh Hồ Quang – Operation Arc Light phải tuân theo trong suốt cuộc chiến đó là đó là tránh những người dân thường và các đền đài tôn giáo trong khu vực cần ném bom.

Những hố bom B-52
Những hố bom B-52.

Lần đầu tiên máy bay B-52 ném bom hỗ trợ lực lượng trên bộ của Mỹ là vào tháng 11 năm 1965, quân Giải Phóng tấn công căn cứ đặc biệt Pleime và bị sư đoàn 1 Không Kỵ của Mỹ đẩy lùi. Sau đó, quân Mỹ tiến hành truy kích 2 trung đoàn quân Giải Phóng ở thung lũng Ia Drang dưới chân núi Chu Prong và là một nơi gần biên giới Campuchia. Ngày 16 tháng 11, lần đầu tiên máy bay B-52 xuất kích để yểm trợ và tổng cộng 18 chiếc máy bay B-52 đã ném xuống 344 tấn bom. Trong suốt trận đánh, ngoài 400 phi vụ của máy bay chiến thuật còn có 96 máy bay B-52 và pháo binh để yểm trợ binh sĩ Mỹ. Chỉ riêng máy bay B-52 đã ném 1.795 tấn bom xuống quân Giải Phóng.

Đến tháng 12, trong chiến dịch Harvest Moon – Operation Harvest Moon tại khu vực cách Đà Nẵng khoảng 40km về hướng Nam.  Tướng Lewis W. Walt – tư lệnh lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Dã Chiến số III –  3rd Marine Amphibious Force (III MAF) đã yêu cầu tướng Westmoreland dùng pháo đài bay B-52 đánh vào vùng hậu cứ của quân Giải Phóng. Sau trận đánh, các toán trinh sát Mỹ đã phát hiện 50-60 thi thể quân Giải Phóng và nhiều hầm ngầm, công sự, kho tàng, … bị phá hủy. Tướng Walt đã nhận xét:

Cuộc ném bom đã gây ấn tượng rất mạnh. Các máy bay B-52 ném bom rất đúng thời gian đã định và vị trí ném bom cũng rất chính xác.

Tháng 10 năm 1965, những chiếc máy bay B-52 bắt đầu được cải tiến để có thể mang được nhiều bom hơn.  Không quân Mỹ đã cải biến những chiếc máy bay này để có thể mang theo 24 rãnh bom và sức chứa bên trong thân tăng từ 9 thành 27 quả bom. Do đó, mỗi chiếc máy bay B-52 có thể mang theo 51 quả bom có trọng lượng mỗi quả 245Kg hoặc 325Kg. Sau cùng, những chiếc máy bay lúc đầu được sơn trắng nhưng sau đó sơn lại màu đen để khó phát hiện từ trên cao

Những chiếc máy bay được cải tiến này tham gia chiến dịch Ánh Hồ Quang – Opreation Acr Light lần đầu tiên vào tháng 3 năm 1966 trong các phi vụ ném bom ở khu vực Phi Quân Sự.

Ngày 11 tháng 4 và ngày 26 tháng 4, những máy bay B-52 đã ném bom khu vực đèo Mụ Giạ. Đây là khu vực nằm trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đưa tiếp viện từ miền Bắc vào miền Nam. Cuộc ném bom đầu tiên và cũng là cuộc ném bom lớn nhất từ khi bắt đầu chiến dịch Ánh Hồ Quang và cũng là cuộc ném bom lớn nhất kể từ thế chiến thứ 2, những máy bay B-52 đã ném xuống khu vực này 600 tấn bom.

Lúc này, Không quân Mỹ bắt đầu tiến hành xây dựng Trung Tâm Tác Chiến Không Quân – Combat Skybot.  Hệ thống này kết nối với các trạm Radar mặt đất và chỉ huy toàn bộ các cuộc ném bom ở vùng Đông Dương kể cả trên đất Lào và Campuchia. Khi bộ Chỉ Huy Quân Đội Mỹ – MACV ra lệnh ném bom, các sĩ quan không lưu ở trung tâm Skybot sẽ hướng dẫn các máy bay chiến thuật lẫn máy bay ném bom B-52 đi theo tuyến đường đã định và theo tốc độ được tính toán trước. Khi đến mục tiêu thả bom, vào đúng thời điểm chính xác, các phi công sẽ nhận được tín hiệu và nhấn nút thả bom. Kết quả các cuộc ném bom dưới sự chỉ huy và hướng dẫn của Skybot đã vượt qua mọi cuộc ném bom trước đó. Phần lớn các khu vực ở vùng Đông Nam Á đều nằm trong khu vực được phủ sóng của các trạm Radar và thiết bị của trung tâm Skybot kể cả vùng nông thôn.

Lịch sử Việt Nam

“Nếu được chiến đấu cùng họ, tôi chắc chắn sẽ cảm thấy tự hào”

Có thể ở một quốc gia khác, những nước đế quốc hạ sát nhiều người dân vô tội để những người còn sống trong sợ hãi, còn ở Việt Nam, họ chỉ khiến người Việt trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn và hi sinh hơn.
191
"Nếu được chiến đấu cùng họ, tôi chắc chắn sẽ cảm thấy tự hào"

Đến giờ, nước Mỹ chỉ có 2 lần bị “đập”, một là ở Trân Châu Cảng và ở trong thế bất ngờ và bị động, lòng tự tôn của một cường quốc lớn đã bị động chạm và sau đó, người Nhật đã phải nếm trải sức mạnh của người Mỹ. Hai là ở Việt Nam, nhưng nước Mỹ lại phải rút chạy trước những người nông dân với khối lượng cơ thể của họ chỉ bằng một nửa người Mỹ. Đến giờ, Việt Nam là nơi duy nhất nước Mỹ phải chịu thất bại, hình ảnh Việt Nam vẫn có một sức nặng ở tất cả những nơi có áp bức, đấu tranh.

Đó là bản hùng ca mà có lẽ sau này, nó vẫn sẽ còn vang mãi, như câu nói “chúng tôi sẽ trở thành Việt Nam thứ hai”.

Một quốc gia điên thật rồi. Nhưng nếu các bạn đọc lịch sử của họ, thì việc đó lại không khiến các bạn bất ngờ nữa. Trung Quốc to lớn mấy ngàn năm là vậy, Mỹ hùng mạnh là thế, Pháp cũng đã duy trì sự hiện diện của họ ở Việt Nam gần trăm năm giời nhưng họ đều đại bại. Việt Nam cũng góp sức theo đồng minh đánh Nhật nữa.

– Mỹ: Tôi mới chỉ thua họ 1 lần

– Nhật: Tôi cũng vậy.

– Pháp: Tôi thì 2 lần

– Anh Quốc: Bạn sẽ không thua nếu bạn chủ động rút quân.

– Mông Cổ: Tôi thì 3 lần.

– Campuchia, Thái Lan: *giơ tay xin phát biểu*

– Pháp, Mỹ, Nhật, Mông Cổ: Thôi tiểu quốc thì im m* mồm vào.

– Trung Quốc: Các hạ tuổi lun

Việt Minh từng thu hút cả những người lính châu Phi, lính Đức, lính Nhật… Điều gì khiến họ có ma lực hấp dẫn như vậy? Đó là tính chính nghĩa.

Nước Mỹ thèm khát chiến thắng Việt Nam ở cả trong tư tưởng. Thực sự họ đã thất bại, phải rút chạy, nhưng họ sẵn sàng làm những bộ phim mà họ ở tư cách kẻ chiến thắng, họ sáng tạo ra luôn một hình tượng không có thực, một vị thần trong truyện tranh để có thể thắng Việt Nam.

“Trong mô tả của họ, trận nào người Mỹ cũng thắng, nhưng cuối cùng Việt Cộng lại thống nhất được lãnh thổ? Ai giải thích hộ tôi được không?”

“Bắc Việt thắng trận không phải chỉ vì họ giỏi hơn, họ gan dạ hơn, mà vì họ sẵn sàng chết nhiều người hơn và chịu bị đòn giỏi hơn? Họ có lý tưởng vĩ đại mà nước Mỹ đến bây giờ, không gặp ở đâu nữa. Thế Ia Drang, Junction City, Khe Sanh, Mỹ quên nhanh thế à? Và sau cùng thì thằng nào thua cuộc?”

Mỹ từng muốn biến Bắc Việt trở thành một đống tan hoang, nhưng rồi, chúng ta thấy B52, F111 nằm la liệt ở tại đó. Phi công Mỹ, chưa có ai bị mất một miếng da, nhưng ở Côn Đảo và Phú Quốc, những tội ác chiến tranh đến giờ vẫn còn. Trung Quốc cũng muốn san phẳng Việt Nam, muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”, nhưng chỉ bằng quân dân địa phương và người dân, Trung Quốc không tiến được sâu hơn 50km vào lãnh thổ Việt Nam trong gần tháng trời.

Xem thêm: Trận Núi Lão Sơn 1509 đẫm máu 1984

Cái giá mà Việt Nam phải trả, nó đắt nhưng nó rất đáng.

Người Việt không phải là dòng dõi chiến binh, toàn nông dân như nhau, thậm chí họ còn không đủ cái ăn cái mặc, tại sao họ lại thắng?

Trong khi người Việt dẹp chế độ Khơ Me Đỏ, một mặt chống sự bành trướng vô lý của Trung Quốc thì Liên Hợp Quốc ở đâu?

Những kẻ đã bắn hạ phụ nữ và trẻ nhỏ, thảm sát hàng trăm người Việt lại chỉ nhận án tù treo 3 năm. 

Phía trên là một số những trích dẫn tiêu biểu, bình luận trên bộ phim tài liệu THE VIETNAM WAR của PBS. Đại đa phần đó là những bình luận của người nước ngoài.

THE VIETNAM WAR | Official Trailer: Remember | PBS

Người Việt, đã trả một cái gì rất đắt, nhưng như bao thời khắc tồn tại trong lịch sử, chúng ta cũng đều phải trả những cái giá đó, nhưng chúng ta hiểu được rằng, sau mọi cái giá đắt, bao giờ cũng là sự vinh quang, nền độc lập và sự tự do.

Họ thất bại, vì họ đánh giá quá thấp người Việt, họ không nghĩ rằng phép màu là có thật. Trong con mắt họ, người Việt đói ăn, khổ sở, sẽ không thể chịu được mãi, nhưng đúng là người Việt không thể chịu được mãi, nhưng là sự không bao giờ chịu đầu hàng.

Người Mỹ nói rằng họ “chỉ” mất khoảng 53 ngàn lính trong khi con số đó của người Việt là vài trăm ngàn cho đến vài triệu. Nhưng như trong một game MOBA, kẻ thắng cuộc là người trụ đến cuối cùng và phá tan nhà chính của đối phương chứ không phải là kẻ hạ gục nhiều mạng hơn.

Chưa bao giờ trong lịch sử, chúng ta phải hổ thẹn và cúi mình.

Đến ngay trong cuộc sống, đôi khi còn có những phút giây mà chúng ta phải diễn tả bằng hai từ “điên khùng”. Điều người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc, người Nhật… và cả thế giới không ngờ rằng Việt Nam, lại có nhiều phút giây “điên khùng” đến như vậy. Có thể ở một quốc gia khác, những nước đế quốc hạ sát nhiều người dân vô tội để những người còn sống trong sợ hãi, còn ở Việt Nam, họ chỉ khiến người Việt trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn và hi sinh hơn.

“Nếu chúng ta viện trợ cho Bắc Việt nhiều cỡ này thì họ có thể đập lộn với chúng ta cho đến hết thế kỷ”.

Xin mượn tạm câu kết của một viên phi công Mỹ: “Tôi muốn nói điều này: Những người lái xe tải (lính Việt Cộng) đó chiến đấu thật ngoan cường. Nếu được chiến đấu cùng họ, tôi chắc chắn sẽ cảm thấy tự hào”.

Tifosi

Lịch sử Việt Nam

Tại sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh như Hàn Quốc?

56
Vì sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh?

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều tội ác chiến tranh tại Trung Quốc và Việt Nam. Những thiệt hại mà phía Trung Quốc và Việt Nam gánh chịu cũng không hề thua kém so với phía Hàn Quốc, nếu không muốn nói là hơn. Nhưng, thái độ của Việt Nam và Trung Quốc với Nhật Bản khác hoàn toàn thái độ của Hàn Quốc với Nhật Bản. Trong diễn đàn giao lưu văn hóa Việt Nhật, có khá nhiều người Nhật đặt ra câu hỏi: Tại sao Việt Nam và Trung Quốc không yêu cầu Nhật Bản đền bù tội ác chiến tranh, trong khi Hàn Quốc thì luôn luôn đòi hỏi?

Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Hàn Quốc

Thực tế, theo Hiệp định cơ bản Hàn – Nhật và Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật được kí năm 1965, Nhật Bản đã đền bù cho phía Hàn Quốc khoảng 300 triệu USD tiền mặt, cho vay ưu đãi khoảng 200 triệu USD và và thu xếp vốn, đào tạo nhân lực, hỗ trợ công nghệ, kỹ thuật cho một số dự án tại Hàn Quốc. Trong Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật có ghi rõ rằng “Cam kết giải quyết hoàn toàn và triệt để tài sản, quyền lợi, lợi ích của hai nước và nhân dân khi kí kết hiệp định..”.  Ngoài ra, Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật còn lấy căn cứ đòi bồi thường từ phía Hiệp ước hòa bình San Francisco – hiệp định mà Nhật Bản sẽ tiến hành bồi thường cho các nước Đồng Minh nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ.

Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn - Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc
Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc (Ảnh Wikipedia)

Tức là nếu xét đúng nghĩa ra, thì Nhật Bản đã hoàn tất dứt điểm các yêu cầu đòi đền bù từ phía Hàn Quốc thông qua hiệp định song phương và đa phương.

Tuy nhiên, những năm 2000, phía Hàn Quốc muốn lật lại hồ sơ chiến tranh, xoáy sâu vào tội ác chiến tranh của Nhật Bản tại bán đảo Triều Tiên và muốn phía Nhật Bản tiếp tục đền bù hậu quả chiến tranh. Phía Hàn Quốc lúc đó có động thái giống như kiểu: “Tôi biết, nhưng đền bù như thế là quá ít”.

Phía Hàn Quốc tiến hành “lách luật”, cho rằng Chính phủ Nhật Bản mới chỉ đền bù cho Chính phủ Hàn Quốc chứ chưa đền bù cho người dân Hàn Quốc. Các hiệp định, thỏa thuận về đền bù tội ác chiến tranh đều do hai bên Chính phủ thỏa thuận, ký kết và làm việc, còn người dân Hàn Quốc thì không được hưởng. Và rồi, nhiều công dân Hàn Quốc là nạn nhân của chiến tranh tiến hành khởi kiện các công ty Nhật Bản tại Hàn Quốc, yêu cầu đền bù. Phía Nhật Bản khó chịu ra mặt, các công ty Nhật Bản cũng không đồng tình, thì phía Tòa án Hàn Quốc ra phán quyết tịch thu tài sản của một số công ty Nhật tại Hàn Quốc.

Nhằm theo đuổi vụ kiện, phía Hàn Quốc thậm chí còn từ bỏ quyền chiến thắng, gỡ bỏ tư cách Hàn Quốc thuộc khối Đồng Minh tại Chiến tranh Thế giới thứ II. Tháng 8/2019, KBS dẫn nguồn tin từ một cán bộ ngoại giao Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không phải là quốc gia thắng trận, không thuộc khối Đồng Minh, không tham gia vào Hiệp ước San Francisco. Rồi họ “lật kèo”, cho rằng Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật thực chất chỉ giải quyết vấn đề công nợ của hai quốc gia.

Phía Nhật Bản muốn giải quyết vấn đề theo thông lệ quốc tế, mong muốn phía Hàn Quốc cử đại diện tham gia vào Ủy ban trọng tài quốc tế thì phía Hàn Quốc từ chối. Tháng 7/2019, phía Hàn Quốc khước từ và cho rằng phải do Tư pháp Hàn Quốc xử lý – nói trắng ra là Hàn Quốc phán như thế nào thì phía Nhật phải tuân theo.

Nhật từng đền bù cho VNCH vì sức ép của Mỹ

Nhật Bản cũng từng đền bù cho Việt Nam, nhưng lại đền bù cho phía Việt Nam Cộng Hòa vì sức ép của Mỹ. Phía Nhật cho rằng nếu đền bù, họ phải đền cho phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – tức là Bắc Việt, vì tội ác lớn nhất mà họ gây ra là nạn đói Ất Dậu diễn ra tại Bắc Bộ chứ không phải là ở miền Nam.

Lúc đầu, phía Quốc gia Việt Nam yêu cầu Nhật Bản bồi thường 2 tỷ USD nhưng phía Nhật Bản cho rằng số tiền đó là quá lớn và đối tượng đền bù là sai – vì một số thành viên nội các Nhật muốn đền bù cho phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1956, VNCH yêu cầu Nhật Bản đền bù 250 triệu USD, Nhật Bản không chịu. Do quá túng tiền, VNCH “mặc cả” số tiền đền bù xuống còn 39 triệu USD. Việc chốt kèo diễn ra, Nhật Bản sẽ xây nhà máy thủy điện Đa Nhim cho VNCH.

Vì sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh?

Năm 1973, sau khi kí Hiệp định Paris, Nhật thừa nhận có hai chính quyền ở Việt Nam. Họ cử một viên chức đại diện ngoại giao Nhật đến Hà Nội, mong muốn đề cập đến vấn đề bồi thường cho nạn nhân miền Bắc chết đói vào năm 1945. Phía Nhật khá là sòng phẳng khi luôn tâm niệm rằng, nếu đền bù, phải đền bù cho đúng.

Điều bất ngờ là chỉ mất vỏn vẹn 5 tháng, phía VNDCCH và Nhật Bản tiến hành xong các trao đổi về bồi thường. Theo đó, phía Nhật sẽ không phải bồi thường hậu quả chiến tranh, phía VNDCCH sẽ không khoét sâu vào tội ác chiến tranh. Nhật Bản sẽ viện trợ cho VNDCCH và ủng hộ công cuộc thống nhất của nhân dân Việt Nam.

Đầu tiên, phía VNDCCH mong muốn có thêm bạn bè và không muốn khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh, còn Nhật Bản đang muốn gây dựng lại hình ảnh hòa bình, hợp tác. Phía VNDCCH đề nghị phía Nhật Bản viện trợ nhân đạo thay vì bồi thường chiến tranh, rõ ràng, cụm từ “viện trợ nhân đạo” có ý nghĩa ngoại giao rất lớn trong lúc cả hai đang gây dựng hình ảnh với thế giới.

Tính đến năm 1973, cũng đã trải qua gần 30 năm từ khi các tội ác chiến tranh xảy ra và nhiều người gây ra tội ác đã không còn nữa. Nhật Bản vừa là kẻ gây ra tội ác chiến tranh, nhưng cũng đồng thời là một nạn nhân. Việt Nam thấu hiểu Nhật Bản ở tư cách của một quốc gia bị chiến tranh tàn phá. Hai quốc gia nhất loạt khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Thực tế, Nhật Bản cũng rất thiện chí đền bù, họ luôn xác định rằng các nạn nhân của nạn đói đều ở miền Bắc và họ muốn đền bù cho Chính phủ VNDCCH – đại diện cho miền Bắc Việt Nam.

Đó là vì sao mà hai bên rất nhanh chóng đi đến các thỏa thuận dàn xếp khắc phục hậu quả chiến tranh. Việt Nam chính là quốc gia cuối cùng mà Nhật Bản tiến hành các đàm phán về việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Và cũng là cuộc đàm phán nhanh nhất về vấn đề này. Cuộc đàn phám cuối cùng này đã tháo gỡ cái gông cùm “tội ác chiến tranh” cho Nhật Bản, nhưng cuối cùng, người Hàn lại mang nó trở lại.

Một phần nữa, khiến Việt Nam không lớn tiếng đòi hỏi đền bù như Hàn Quốc vì phúc lợi cho những nhóm người yếu thế, như thương binh, nạn nhân chiến tranh khá tốt. Tại Việt Nam, gần như không có các trường hợp kiện cáo liên quan đến phúc lợi xã hội thời kỳ chiến tranh xảy ra, nếu có, thì thường liên quan đến các vấn đề xác định đối tượng hơn. Còn phía Hàn Quốc thì có, chính vì che lấp đi những sai phạm, phía Hàn Quốc muốn chĩa mũi sang phía Nhật Bản.

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính Hàn Quốc tại Việt Nam

Một yếu tố khiến người Việt không “đay nghiến” chuyện tội ác chiến tranh là xuất phát từ lịch sử.

Trong lịch sử, đặc biệt là thời phong kiến, Nhật Bản và Trung Quốc chưa bao giờ xem Hàn Quốc là một quốc gia ngang hàng, nếu không muốn nói là chư hầu, thuộc địa. Chính vì sự mặc cảm đó, nên Hàn Quốc duy trì một thái độ tương đối thù địch với Nhật Bản, họ muốn vượt Nhật Bản, muốn vượt qua khỏi tâm thế yếu kém trong quá khứ. Vì thế, họ chấp nhận đào sâu vào vấn đề tội ác chiến tranh, bắt ép Nhật Bản phải “nhận thua”.

Còn với Việt Nam, tâm thế khác hẳn. Trong lịch sử, Việt Nam khá “bướng”, mặc dù ở ngay dưới Trung Quốc, đánh nhau liên miên, lễ vật cho Trung Quốc khá nhiều, nhưng các triều đại Việt Nam vẫn duy trì một tâm thế độc lập, tự chủ. Tức là mặc áo long bào, có ấn tín riêng, không chấp nhận cử thái tử kế thừa đi học tại Trung Quốc, đi sứ Trung Quốc thì cứ thẳng tiến cổng chính mà bước vào… Còn với Nhật Bản, mối giao hảo trong quá khứ cũng tương đối lành, vì vốn hai quốc gia ở xa nhau. Và còn có lúc, Việt Nam gián tiếp giúp Nhật Bản thoát khỏi nhiều lần bị đe dọa chủ quyền lãnh thổ. Việc năm lần bảy lượt đòi đền bù, rồi lôi nạn nhân ra mặc cả xem ra không được đúng cho lắm với cái tâm thế ngang bằng giữa Việt Nam và Nhật Bản, hay Việt Nam với Trung Quốc. 

Việt Nam tuyên bố đứng về phe Đồng Minh và khối Đồng Minh đã thắng trận. Nhưng Việt Nam không hề đòi bồi thường hay lợi lộc gì cả, Việt Nam chỉ quan tâm đến đánh đuổi Nhật và có lại được nền hòa bình. Đó là vì sao, những khoản tiền đền bù đền không phải là mục tiêu tối thượng. Còn Hàn Quốc thì khác, họ sẵn sàng từ bỏ tâm thế “kẻ thắng trận” để theo đuổi vụ việc đòi đền bù.

Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam không phải là bồi thường chiến tranh!

Nhiều người sẽ bảo rằng: Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam coi như là khắc phục hậu quả chiến tranh rồi. Điều đó sai bét, bản chất ODA từ Nhật Bản là nguồn tiền mà chúng ta phải đánh đổi bằng tài nguyên, bằng việc ưu đãi cho các quốc gia cung cấp vốn ODA hoặc sẽ phải trả trong tương lai. Nói thì vấn đề này thì dài, nhưng tóm gọn lại, chưa có bất cứ văn bản chính thức nào giữa hai quốc gia coi ODA là “đền bù hậu quả chiến tranh”.

Nhìn những nạn nhân của tội ác chiến tranh tại Hàn Quốc cầm băng rôn, đứng xếp hàng ở vỉa hè, biểu tình đòi kiện cáo ngày này qua tháng nọ. Mình liên tưởng đến một khả năng, nếu các mẹ Việt Nam anh hùng, các bác thương binh hay người thân của họ cũng làm như vậy, thì sẽ thế nào? Trước tiên, đó là lỗi của chúng ta, những thế hệ sau, đã không tròn trách nhiệm, nghĩa vụ với người đi trước. Sau đó, là cảm giác như kiểu đem sự thương đau ra nhắc đi nhắc lại vậy.

Hòa giải, không có nghĩa là lãng quên một cách vô tình hay cố ý những tội ác, xung đột trong quá khứ hay nỗ lực, mặc cả dựa để đạt được các quyền lợi kinh tế. Hòa giải, ở đây, là làm việc cùng nhau, đối diện với nhau, coi quá khứ như một bài học để hướng đến tương lai.

Tifosi

Lịch sử Việt Nam

Thành cổ Quảng Trị và mỗi tấc đất là một cuộc đời

Quảng Trị "mùa hè đỏ lửa" năm 1972 là một túi bom, mỗi mét vuông đất mà chiến sỹ ta giành được ở Thành Cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu. Hàng ngàn chiến sỹ đã hi sinh tại đây vẫn chưa lấy được hài cốt vì khói lửa bom đạn quá nhiều. Xương máu, linh hồn và tên các anh đã hóa thân thành hình hài đất nước ngày nay.
56
Thành cổ Quảng Trị và mỗi tấc đất là một cuộc đời

Hiệp định Giơnevơ được ký kết ngày 20/7/1954, theo hiệp định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới chia cắt tạm thời. Một phần của Quảng Trị từ Sông Bến Hải trở ra được giải phóng, các huyện từ Gio Linh trở vào Hải Lăng trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Thị xã Quảng Trị, trong đó có Thành Cổ Quảng Trị trở thành trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế – xã hội. Mỹ – ngụy biến Thành Cổ thành khu quân sự, làm kho tàng quân đội và trung tâm chỉ huy chiến dịch toàn tỉnh, đồng thời mở thêm nhà giam để đàn áp phong trào cách mạng.

“Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc,
Một dấu chân in màu đất hai miền”.

Thành cổ Quảng Trị trong những năm tháng lịch sử
Thành cổ Quảng Trị trong những năm tháng lịch sử

Quảng Trị “mùa hè đỏ lửa” năm 1972

Riêng ở khu vực thị xã Quảng Trị, tổng số bom đạn mà Mỹ sử dụng trong 81 ngày đêm bằng sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật bản. Có ngày số bom Mỹ ném ở Quảng Trị vượt xa số bom Mỹ ném trên toàn miền Nam trong các năm 1968-1969. Dữ dội nhất là ngày 25/7, thị xã phải chịu 35.000 quả đạn pháo của Mỹ, chưa kể bom từ máy bay. Thành cổ Quảng Trị chỉ rộng 3 km vuông và vùng ven có ngày phải chịu hơn 20.000 quả đạn đại bác cỡ lớn. Với việc huy động một số lượng bom đạn khổng lồ, quân Mỹ hoàn toàn có ưu thế áp đảo về hỏa lực.

Trận Thành cổ Quảng Trị là một trận chiến giữa một bên là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được sự hỗ trợ về hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam với một bên là Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại khu vực thành cổ Quảng Trị vào năm 1972. Đây là một trong những trận chiến ác liệt bậc nhất trong Chiến dịch Xuân Hè 1972, một phần của Chiến tranh Việt Nam. Trận chiến kéo dài trong suốt 81 ngày đêm, sau khi liên tiếp tung vào các đơn vị bộ binh cũng như sử dụng một lượng hỏa lực bom đạn cực kỳ lớn, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã thành công trong việc tái chiếm lại Thành cổ nhưng vẫn không thể giành lại nửa Bắc của tỉnh Quảng Trị. Tuy vậy về mặt chiến lược, sự kháng cự mạnh mẽ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ về hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã khiến kế hoạch tái chiếm thành cổ của đối phương bị kéo dài tới 3 tháng so với kế hoạch ban đầu là 2 tuần.

Năm 1972, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức tổng tấn công trên 3 chiến trường chính: Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên, và Đông Nam Bộ (Bình Long), trong đó hướng chủ yếu là tỉnh Quảng Trị. Lúc này Hội nghị Paris đang ở thế có lợi cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đẩy lùi được Chiến dịch Lam Sơn 719 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa cùng các chiến thắng khác của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Đắk Tô, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sức ép về việc phải giành được một chiến thắng có tính biểu tượng lên Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Hoa Kỳ nhằm lấy lại thế thượng phong trên bàn đàm phán ngày một gia tăng. Thành cổ Quảng Trị nằm gần Quốc lộ 1, đây là tiền đồn phòng thủ của Vùng I chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa. Giành được Thành cổ sẽ có giá trị lớn về tính biểu tượng. Tin tức về việc Quảng Trị rơi vào tay Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tác động mạnh mẽ tới chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 25 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Thiệu đưa ra cam kết bằng mọi giá tái chiếm Quảng Trị cũng như trách móc phía Hoa Kỳ đang bỏ rơi đồng minh. Lúc này, trong Quốc hội Hoa Kỳ, tiếng nói đòi rút quân Mỹ khỏi Việt Nam ngày càng gia tăng.

Ngày 28 tháng 6 năm 1972, tướng Ngô Quang Trưởng phát lệnh khởi binh chiến dịch Lam Sơn 179 trên hai hướng. Chiều 28 tháng 6, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, QLVNCH đã cô lập được một bộ phận của các sư đoàn 304 và 308 QĐNDVN ở nam Sông Mỹ Chánh. Hướng Đông, ngày 29 tháng 6, các lữ TQLC 147 và 258 tấn công các khu vực Diên Khanh, Xuân Viện, Kim Giao (thuộc huyện Hải Lăng), phối hợp với Lữ TQLC 369 từ Mỹ Thủy và Cổ Lũy đánh ra. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 7, sau khi nhổ từng chốt chặn của QĐNDVN trên khoảng cách từng hecta một, chịu thương vong hơn 300 quân, Lữ dù 1 và Liên đoàn 1 Biệt động quân đã có mặt ở ngoại vi thị xã Quảng Trị nhưng không lọt vào được.

Ngày 7 tháng 7, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) QĐNDVN sử dụng Đại đội 9, tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng, được Trung đoàn pháo 45 chi viện trực tiếp, tiến hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Quân VNCH thấy xe tăng bất ngờ xuất hiện, nên đội hình rối loạn. QLVNCH bị thương vong hàng trăm binh lính, bị bắn cháy hai xe tăng và bị đánh bật ra khỏi khu vực La Vang Hữu. QĐNDVN bị hỏng hai xe tăng, một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom.

Hình ảnh hai cha con người dân địa phương không quản ngại gian lao đưa các chiến sĩ vào Thành cổ chiến đấu. 

Đến lúc này, thời hạn chiếm lại Thành Cổ mà Mỹ hoạch định đã sắp hết, nhưng đà tiến vẫn bị chặn đứng. Quân Mỹ liền tăng cường hỏa lực, nâng tổng số đạn pháo đánh phá thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, sử dụng 40 đến 60 lần/chiếc máy bay phản lực một ngày, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành, tăng số phi vụ máy bay B-52 ném bom dọc bờ tả ngạn sông Thạch Hãn và hậu phương để ngăn chặn QĐNDVN tăng cường quân số, vận chuyển tiếp tế.

Ngày 13 tháng 7, một máy bay trực thăng chở đại tá Nguyễn Trọng Bảo, tham mưu phó sư đoàn dù và 8 sĩ quan tham mưu đi đốc thúc việc cắm cờ hòng gây thanh thế tại bàn đàm phán ở Paris. Chiếc trực thăng bị một trận địa súng máy 12,7 mm của QĐNDVN do Bùi Trung Thành chỉ huy tiêu diệt ngay tại thị xã Quảng Trị cùng tất cả số sĩ quan trong trực thăng. Rạng sáng 14 tháng 7, một đội biệt kích đột nhập vào phía đông Thành cổ với ý định cắm cờ và chụp ảnh để có lý do tuyên truyền, nhưng chưa kịp cắm thì bị đại đội 14 trung đoàn 48 phát hiện và tiêu diệt một số, số còn lại phải bỏ chạy để lại lá cờ.

Ý định của QLVNCH là chiếm thị xã trước ngày 13 tháng 7 để chiếm thế thượng phong tại Hội nghị Paris đã không thực hiện được. Thương vong mỗi bên lên đến hàng nghìn người. Sau mười ngày liên tục tiến công Thị xã, sư đoàn dù chịu tổn thất khá lớn. QLVNCH bị thương vong 1.071 binh lính, tiểu đoàn dù 1 và 5 bị tổn thất nặng, bị cháy 3 xe tăng, rơi 2 máy bay (1 phản lực, 1 trực thăng) và bị phá hủy nhiều vũ khí phương tiện kỹ thuật khác.

Ngày 14 tháng 7, Sư dù và Sư TQLC-QLVNCH tổ chức tấn công đợt 2 nhằm chiếm thị xã trước ngày 18 tháng 7 và cùng lắm phải trước ngày 27 tháng 7. Lữ dù 1 đánh Quy Thiện, Trì Bưu, Lữ dù 2 đánh Tích Tường, Như Lệ. Các lữ TQLC 147 và 369 tiến sát sông Vĩnh Định, chiếm An Tiêm, Nại Cửu và Bích La Đông. Trong trận này, Lữ 369 TQLC tổn thất 2 đại đội và 11 trực thăng ở Nại Cửu. Đến ngày 16 tháng 7, Lữ dù 1 đã chiếm được các làng Trì Bưu, Cổ Thành; Trung đoàn 18 (Sư 325) bị tổn thất nặng phải rút ra Ái Tử – Đông Hà, Bộ tư lệnh B5 điều Trung đoàn 95 (Sư 325) vào thay. QLVNCH đã hình thành thế bao vây ba mặt quanh thị xã Quảng Trị nhưng chưa vào được nội đô.

Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, tướng Lê Quang Lưỡng tung lực lượng dự bị cuối cùng (Liên đoàn biệt kích dù 81) vào chiến đấu, chiếm được các làng Trì Bưu, Cổ Thành. Tiểu đoàn biệt kích dù 27 tiến sát góc Đông Nam Thành cổ nhiều lần lao lên định cắm cờ lên tường thành nhưng đều bị Trung đoàn 48 đẩy lùi. Hai bên tổn thất lớn về sinh mạng.

Ngày 28 tháng 7, thời hạn đánh chiếm thị xã Quảng Trị và thành cổ đã hết, tướng Ngô Quang Trưởng quyết định dừng cuộc tấn công của Sư đoàn dù, chuyển giao nhiệm vụ đánh chiếm thị xã Quảng Trị cho Sư đoàn thủy quân lục chiến. Trong tháng 7, mỗi ngày Không lực Hoa Kỳ huy động từ 40 đến 60 phi vụ B-52, 130 đến 150 phi vụ máy bay cường kích yểm hộ mặt đất cho QLVNCH.

Ngày 5 tháng 8, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 QĐNDVN cùng đơn vị bạn đã tập kích diệt 1 đại đội quân đối phương ở Hạnh Hoa, đánh thiệt hại 3 đại đội khác, bắn cháy 5 xe tăng. Đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Từ hạ tuần tháng 7 đến 15 tháng 9, Trung đoàn 88 sư đoàn 308 bảo vệ khu vực Tây nam Thành cổ, giữ vững trận địa từ khu vực trường Bồ Đề, khu Đệ Ngũ, ngã ba Bãi Đá, khu Cầu Sắt, khu Long Hưng đến La Vang và đồn Gia Long. Trung đoàn đã đánh hơn 100 trận lớn nhỏ, trong đó có 50 trận cấp đại đội đến trung đoàn, tiêu diệt 1.670 binh lính đối phương, bắn cháy 16 xe tăng, thu nhiều vũ khí đạn dược.

Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh B5 QĐNDVN quyết định giao nhiệm vụ cho sư đoàn 325 chỉ huy lực lượng phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Tiêu biểu như trận đêm 24 tháng 8, một phân đội đặc công Sư đoàn 325 đã luồn sâu đánh sở chỉ huy tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở An Lưu, diệt 80 lính đối phương, bắn cháy 2 xe tăng, 2 nhà bạt, phá 1 trận địa súng cối.

Từ ngày 20 đến ngày 30 tháng 8 năm 1972, các chốt trong thị xã đều được Quân đội Nhân dân Việt Nam giữ vững. Đêm đêm, họ tập kích ở Tri Bưu, ở Thạch Hãn, chùa Bà năm, diệt một số đối phương khiến quân Việt Nam cộng hòa không tiến được.

Quân số của họ bổ sung vào Thành đều đặn theo kế hoạch. Mỗi đêm vào trung bình được 40-50 người (đã trừ số người đào ngũ, lạc ngũ hoặc bị thương từ bên kia bờ sông, chiếm khoảng 30-40%). Hàng ngày thuyền gắn máy hậu cần từ Tả Kiên vào thành đều tiếp tếlương thực, đạn dược, thuốc men, kể cả quà Quốc khánh từ hậu phương tới. Dù vậy, do áp lực liên tục từ đối phương, giao thông hào chiến đấu bị bom đạn bắn phá liên tục, nên hệ thống phòng thủ ngày càng lỏng lẻo. Tân binh được tăng cường cho các đơn vị phòng thủ chỉ đủ để bù đắp số thương vong trong chiến đấu.

Ðợt từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 9 năm 1972, trời mưa to, nước sông Thạch Hãn lên nhanh, chảy xiết, ảnh hưởng đến tăng cường cung cấp và quân số. Có đêm trôi dạt hàng chục chiến sĩ vượt sông. Công sự chốt bị sụt lở nhiều. Bộ đội tiếp tục giữ các chốt trên các hướng. Tiểu đoàn 4 trung đoàn 95 tập kích khu tam giác Thạch Hãn, chiếm một số công sự của VNCH, cải thiện thế phòng thủ ở đó. Tiểu đoàn đặc công mặt trận phối hợp với đại đội đặc công sư đoàn 325 chuẩn bị đánh khu quận lỵ Mai Lĩnh nhưng thất bại.

Ngày 4 tháng 9 năm 1972, trung đoàn bộ binh 88 thuộc sư đoàn 308 Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi khu Thạch Hãn tây và khu giáp sông ở thôn Ðệ Ngũ – trường Bồ Đề làm sườn phía nam bị hở. Một số thành viên trung đoàn 88 trong đó có trung đoàn phó Phan bị thương tạt vào sở chỉ huy Thành cổ. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đưa số này vượt sông lũ ra hậu phương. Để đối phó với tình hình quan trọng này, họ sử dụng một bộ phận tiểu đoàn 7, trung đoàn 18 và tiểu đoàn 4, trung đoàn 95 ra chiến đấu thay thế trung đoàn 88 ở khu vực đó để giữ sườn phía nam thị xã.

Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến công đợt 6, mở đầu bằng đòn tập kích hỏa lực “Phong lôi 2”.Không quân, hải quân Hoa Kỳ, pháo binh Việt Nam Cộng hòa bắn suốt 48 giờ liền vào tất cả các trận địa của Quân đội Nhân dân Việt Nam, tập trung đánh vào khu Thành cổ, các bến vượt sông, đường cơ động lực lượng và vận chuyển. Oanh tạc cơ B-52 rải thảm tả ngạn sông Thạch Hãn, tập trung vào khu Nhan Biều-Ai Tử và các trận địa pháo của đối phương. Tính toàn bộ trong 81 ngày đêm của trận Thành cổ, các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã dội xuống địa điểm thị xã (rộng chưa đầy 3 km²) và vùng lân cận tổng cộng 120.000 tấn bom đạn, trong đó mỗi ngày có từ 70 đến 90 lượt máy bay ném bom B52 tham chiến. “Đây là kế hoạch chi viện hỏa lực cao nhất của Mỹ trong một trận đánh. Tính từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 16 tháng 9, Mỹ sử dụng pháo hạm bắn 123.725 viên đại bác vào thị xã (trong đó có 52.573 viên vào Thành cổ); sử dụng 2.244 lần chiếc máy bay ném bom, trong đó có ngày huy động tới 100 lần chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52.”

Đêm 7 tháng 9, tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kích khu Hành Hoa, chiếm một số công sự, cải thiện thế phòng thủ ở Tri Bưu. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 tập kích khu nhà thờ Tin Lành, thương vong một số (tiểu đoàn trưởng đơn vị này cũng chết) nhưng đã chiếm được.

Đây là tấm hình chụp lại niềm vui vô bờ bến của những người lính trẻ khi chiếm được một cứ điểm của địch ở Thành cổ.
Đây là tấm hình chụp lại niềm vui vô bờ bến của những người lính trẻ khi chiếm được một cứ điểm của địch ở Thành cổ.

Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1972, lữ đoàn 147 và 259 Thủy quân Lục chiến (TQLC) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã khởi động cuộc tấn công lớn. Quân VNCH sử dụng gồm hai lữ đoàn với năm mũi, tiến công từ ba hướng vào thị xã. Họ tập trung xe tăng, xe thiết giáp, súng phun lửa để tái chiếm thành cổ. Đồng thời với việc Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến công khu La Vang-Tích Tường-Như Lệ để chặn sư đoàn 308 phản kích từ hướng này, liên đoàn biệt động 1 VNCH cũng tiến công Bích Khê-Nại Cửu để chặn sư đoàn 320 QĐNDVN hoạt động từ bắc sông Vĩnh Ðịnh.

Nhiều trận phản kích ác liệt của bộ đội ở ngay sát chân Thành cổ đã đánh bật nhiều mũi tiến công. Ngày 9 tháng 9, một trung đội VNCH lọt vào thành cổ, bị K3 Tam Đảo phản kích dữ dội tháo chạy, để lại 11 xác chết. Cũng ngày hôm đó tại khu Hạnh Hoa, QĐNDVN diệt một đại đội, đánh thiệt hại nặng một đại đội khác thuộc lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, bắn cháy 5 xe bọc thép. QĐNDVN mất 13 người, bị thương một số. Sau trận này, K3 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Tiểu đoàn 4 trung đoàn 95 QĐNDVN chặn đánh 3 tiểu đoàn đối phương ở khu Tin Lành, quyết liệt giành đi giật lại từng công sự. Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiệt hại một đại đội, nhưng chiếm được khu Mỹ Tây. QĐNDVN bị thương vong 30 người, hỏng một cối 82 ly, một súng 12 ly 7, một đại liên, một B-40, một B-41. Đến đêm 9 tháng 9, tiểu đoàn 4 cùng tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 QĐNDVN tập kích chiếm lại khu Mỹ Tây, đẩy Quân lực Việt Nam Cộng hòa chạy về nam sông con. Đêm 9 tháng 9, sau khi được củng cố, K8 vào thành.

Ngày 10, 11, 12 tháng 9 năm 1972, QLVNCH tiếp tục lấn dũi mạnh từ hướng nam-đông-nam. Nhiều toán nhảy vào thành nhưng đều bị tiêu diệt. Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác chết trương phềnh, mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

Ngày 10 tháng 9, QLVNCH có xe tăng chi viện khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Trại giam. Tiểu đoàn 4 trung đoàn 95 QĐNDVN đánh trả ác liệt, giữ vững chốt bắn hỏng một xe tăng, hai đại liên, thu một M79 và nhiều lựu đạn, nhưng cũng bị chết 6, bị thương 49. Đêm 10 tháng 9, QĐNDVN cho tiểu đoàn 4 ra ngoài củng cố, dùng tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 thay thế, chiến đấu ở Tây-Nam Thành cổ.

Tính chung trong ngày 10-9, cả ở hướng Nam-Đông Nam, Bắc-Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, QĐNDVN diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng, nhưng cũng bị thương vong 126 người và để mất khu trại giam và Mỹ Tây. Trong 2 ngày 11 và 12, QĐNDVN diệt hơn 518 binh lính đối phương, nhưng cũng bị thương vong 216 người. Đêm ngày 12, QĐNDVN tăng cường vào Thành Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 người) và 70 tân binh.

Ngày 13-9-1972, trời mưa to, lũ lớn, hạn chế nhiều đến việc tăng cường lực lượng (quân số, vật chất kỹ thuật cho Thị xã). QLVNCH sau 4 ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng 6 tiểu đoàn thuộc 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Kết quả trong ngày, QĐNDVN diệt 123 lính, bắn cháy 1 xe tăng, bị thương vong 34 chiến sỹ.

23 giờ ngày 13 tháng 9, Bộ Tư lệnh B5 (QĐNDVN) lệnh cho trung đoàn phó trung đoàn 48, và tiếp sau đó vài giờ, vào 1 giờ sáng 14 tháng 9 lệnh cho Đại tá Nguyễn Việt chỉ huy trưởng Thành ra ngay Nhan Biều để cùng sư phó sư đoàn 325 tổ chức lực lượng trung đoàn bộ binh 18 vào phản kích trong thành.

Ngày 14 tháng 9 năm 1972, từ hướng đông-nam, QLVNCH tiến sát khu chùa Bà Năm, khu trại giam, chợ. Từ hướng nam, họ vào khu Mỹ Tây, Trường Nữ. QĐNDVN chống trả quyết liệt, vẫn giữ vững các chốt, nhưng bị thương vong nhiều. Mặt trận B5 điều một đại đội xe tăng đến Nhan Biều để làm công sự cố định bắn chi viện sang Thành nhưng sau đó do khó khăn địa hình nên chưa bố trí được ngay.

4 ngày dùng bộ binh liên tục từ ba hướng tấn công vào, nhưng QLVNCH vẫn không chiếm được thành, họ quay ra củng cố công sự và bao vây thành từ ba phía, đồng thời điều cả xe tăng phun lửa liên tục tấn công vào các chốt của QĐNDVN. Chốt chiến đấu của QĐNDVN có điểm chỉ cách địch 50 m.

“K3 – Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”

Ngày 14-9-1972, sau khi dùng xe tăng phun lửa dữ dội vào các chốt phòng thủ, quân VNCH tấn công vào thành. Tiểu đoàn phòng thủ lúc này chỉ còn gần 20 tay súng, quyết tâm thực hiện lời thề danh dự: “K3-Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”, với B-40, B-41, lựu đạn, nổ súng đánh trả quyết liệt vào đội hình của TQLC, buộc quân VNCH phải rút chạy. 2 giờ chiều, một toán khác vào thành từ góc đông nam liền bị các tay súng của đại đội 9 QĐNDVN đánh bật ra. Đến 18 giờ, lợi dụng lúc trời chạng vạng tối, từ ba góc, TQLC lại tiếp tục mở đợt tấn công dữ dội vào thành. Được sự chi viện của K8 và các tay súng của trung đoàn 48 Sư đoàn 320, tiểu đoàn đã ngoan cường chiến đấu, đánh bật quân VNCH ra khỏi thành.

Rạng sáng ngày 13 tháng 9/1972, đại đội 5 tiểu đoàn 2 QLVNCH từ ngã tư Quang Trung – Trần Hưng Đạo mở cuộc tấn công vào khu vựcchợ Quảng Trị. Trận chiến đã diễn ra quanh khu vực chợ, dọc theo đường Trần Hưng Đạo ra đến bờ sông. Hai bên đã quần thảo nhau quanh các đống bê tông đổ nát mà QĐNDVN đã biến thành các điểm kháng cự. Cuối cùng tiểu đoàn TQLC này đã chiếm được mục tiêu, sau đó khai triển đội hình tiến chiếm khu hành chánh gồm Ty Bưu Điện, Ty Thanh Niên, Ty Ngân khố và tiến sát đến dinh tỉnh trưởng – nơi 1 đại đội của QĐNDVN đang bố trí quân quanh khuôn viên để cố thủ.

Một mũi nhọn khác của tiểu đoàn 2 QLVNCH với đại đội 4 làm nỗ lực chính thanh toán các chốt địch dọc hai bên đường Phan Đình Phùng, sau đó tiến đánh và triệt hạ các chốt bố trí tại cơ quan USOM và Tòa án tỉnh Quảng Trị. Thanh toán được các mục tiêu trọng yếu, đại đội 4 và đại đội 5 của tiểu đoàn 2 QLVNCH đã tấn công vào khu vực tòa Hành chánh tỉnh và Ty Tiểu học vụ Quảng Trị nơi 1 trung đoàn QĐNDVN đặt bộ chỉ huy. Do các chốt bảo vệ xung quanh đã bị TQLC triệt hạ, nên bộ chỉ huy QĐNDVN tại đây đã phải dời ra hướng sông.

4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 và 147 tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng, được chi viện tối đa hỏa lực của không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lửa các loại. Ở hướng Đông của thành cổ, 4 đại đội của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 TQLC đã dàn hàng ngang đồng loạt xung phong tiến về hướng Tây, tập kích sở chỉ huy tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 QĐNDVN và chiếm một góc khu đông bắc Thành cổ. Các chốt của QĐNDVN còn lại tiếp tục chiến đấu trong ngày, mặc dù sức chiến đấu đã giảm, quân số bị thương vong nhiều. Lực lượng K8, tiểu đoàn 3 trung đoàn 48 mới vào cũng đã bị tổn thất nặng. Lực lượng trung đoàn bộ binh 18 vẫn chưa đến được nơi quy định để vượt sông vào Thành cổ.

Trong đêm 15 tháng 9 năm 1972, QĐNDVN đã pháo kích dữ dội vào đội hình của hai tiểu đoàn 3 và 6 TQLC để yểm trợ cho lực lượng đang cố thủ ở đây. Gần rạng sáng, các đơn vị TQLC đồng loạt xung phong, những tổ kháng cự của QĐNDVN đã chống trả mạnh nhưng chỉ được nửa giờ sau đó đã bị đánh bật khỏi phòng tuyến.

Cũng trong đêm 15 tháng 9 các chỉ huy của QĐNDVN trong thành nắm lại tình hình, thấy QLVNCH đã chiếm một số góc thành cổ, quân số chiến đấu của họ còn lại chẳng bao nhiêu nên thống nhất ra lệnh rút khỏi thị xã và thành cổ từ 22 giờ ngày 15 tháng 9.

Thứ tự rút: ưu tiên thương binh đi trước, tiếp đến các lực lượng tiểu đoàn ở xe, rồi đến các đơn vị trực thuộc, cuối cùng là sở chỉ huy Thành. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48,K8, vệ binh – trinh sát bảo vệ đội hình rút. Ban chỉ huy Trung đoàn hỗn hợp cùng đội vệ binh rút cuối cùng vào nửa đêm 15 rạng ngày 16. Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 được lệnh dừng lại, không vượt sông sang phản kích nữa, mà nhanh chóng triển khai lực lượng phòng thủ tả ngạn sông Thạch Hãn, khu vực Nhan Biều – Ái Tử.

Sau 4 tháng 16 ngày (81 ngày đêm) chiếm giữ Cổ Thành và thị xã Quảng Trị, QĐNDVN rút lui khỏi Thành cổ. Riêng trung đoàn Triệu Hải (trung đoàn 27 QĐNDVN-trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng nguyễn Huy Hiệu) với 1.500 quân cố thủ trong Cổ Thành đã bị thương vong gần hết, chỉ còn cỡ 1 tiểu đội còn lành lặn khi rút ra ngoài. Chi tiết về trung đoàn này cũng đã được phóng viên báo Tuổi Trẻ ghi lại theo lời kể của 1 cựu chiến binh (một trong gần 10 người còn lành lặn của trung đoàn này) qua bài ký đăng trong số báo ra ngày 26 tháng 7/1998, có đoạn như sau:

“Tết năm 1968, ngay sau khi trung đoàn được thành lập ở miền Bắc, một tháng sau trung đoàn này có mặt tại Quảng Trị. Từ đấy cho đến năm 1972, Quảng Trị đã trở thành chiến trường của trung đoàn 27, và ở đây, họ mang một cái tên mới: trung đoàn Triệu Hải (tên của hai huyện đồng bằng Quảng Trị ghép lại)… Phải đến bây giờ, chúng ta mới được nghe cả một trung đoàn vào giữ Thành Cổ, lúc rút ra còn chưa đến một tiểu đội.”

Ngoài trung đoàn Triệu Hải bị xóa sổ, trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 320B QĐNDVN – đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số. (QĐNDVN có 2 sư đoàn cùng mang số 320, đó là sư đoàn 320 thuộc B-3 đã tham dự cuộc tổng tấn công vào Kontum trong tháng 5/1972, và sư đoàn 320 B thống thuộc quyền chỉ huy của bộ tư lệnh quân khu tại Trị Thiên). Trong một hồi ký phổ biến vào năm 1997, trung tướng Lê Tự Đồng, nguyên tư lệnh lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại mặt trận tỉnh Quảng Trị, ghi nhận là các sư đoàn và trung đoàn tham chiến đã bị tổn thất hơn quá nửa quân số.

Về phía QLVNCH, tuy chiếm được thành cổ nhưng cũng phải trả giá đắt. Kế hoạch chiếm thị xã trước ngày 13/7 để mặc cả tại Hội nghị Paris không thực hiện được mà còn phải mất gấp 5 lần thời gian định trước. Để chiếm lại thành cổ, chỉ riêng sư đoàn Thủy quân Lục chiến có 3.658 binh sĩ tử trận, chiếm 25% tổng quân số (tổng thương vong là hơn 5.000 chiếm 38% quân số), các đơn vị Dù cũng chịu thiệt hại nặng tương đương. Tổng quân số tử trận của các đơn vị lên tới 7.756 người, hàng ngàn lính khác bị thương.

Thiệt hại lớn của các đơn vị tinh nhuệ này khiến QLVNCH cũng không đủ sức tấn công tiếp lên phía bắc, các chiến dịch Lam Sơn 72A và các cuộc hành quân “Sóng thần” để tái chiếm bờ bắc Thạch Hãn nhanh chóng bị QĐNDVN đánh bại. Hai bên quay về giữ thế giằng co cho đến khi hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1 năm 1973.

Sau 12 tuần lễ liên tục tổng công kích với sự hỗ trợ hỏa lực tối đa của Hoa Kỳ, đến giữa đêm ngày 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1972, lực lượng Thủy quân Lục chiến đã tiến vào thị xã Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ khu vực Cổ Thành. Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, hai tiểu đoàn 3 và 6 Thủy quân Lục chiến từ các vị trí vừa chiếm được trong Cổ Thành, đã bung ra lục soát và đuổi các chốt còn lại của QĐNDVN. Đến 8 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, một toán Cọp Biển của tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến đã dựng quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa trên cổng tường phía Tây Cổ Thành Quảng Trị, biểu tượng cho thành công của Quân lực VNCH trong cuộc tổng phản công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.

Hình ảnh Thành cổ sau trận chiến vì hứng chịu bom đạn của kẻ thù.

Theo cuốn Một thời hoa lửa của NXB Trẻ thì từ mồng 10 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam bị thương vong nhiều. Như hai tiểu đoàn mới vào thành (Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn địa phương 8) cũng đã tổn thất nặng. Riêng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 từ khi vào thành đến khi rút ra (từ ngày 13 tháng 7 đến ngày 10 tháng 9 năm 1972) đã chết trên 100 người, bị thương trên 700 (tính cả số bổ sung từng ngày), đảng viên có 67 người, lúc ra còn 12 người v.v… Thật là quá nặng nề đối với lực lượng phòng thủ thành cổ. Do đó hành động của tư lệnh chiến dịch vào buổi giao ban sáng 16 tháng 9 và tiếp sau đó lệnh phòng ngự tả ngạn sông Thạch Hãn vào chiều 16 tháng 9 là thích hợp với tình hình thực tế.

Ở Thành cổ Quảng Trị, mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật

Vào ngày thứ 77 trong chiến dịch 81 ngày đêm, chiến sỹ Lê Văn Huỳnh, người con của xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, Thái Bình, trước khi xuất kích đưa hàng qua sông Thạch Hãn đã viết vội một bức thư, chứa bao dự cảm về tương lai và nơi liệt sỹ yên nghỉ trước trận đánh cuối cùng của mình. Bức thư mang một sự bình tĩnh đến lạ lùng của người lính. Ngày ấy, anh Huỳnh là sinh viên năm thứ 4 Đại học Bách khoa, chị Đặng Thị Xơ là cô dân quân 22 tuổi xinh đẹp. Đầu năm 1972, nhân dịp nghỉ Tết, anh chị làm đám cưới. Cưới được 3 ngày thì anh Huỳnh lên trường học tiếp. Sang năm 1972, chiến tranh ngày càng khốc liệt, Nhà nước phát lệnh tổng động viên. Giống như hàng ngàn học sinh, sinh viên Việt Nam thời ấy, anh Huỳnh hăng hái lên đường vào Nam. Trước ngày nhập ngũ, anh được về thăm nhà nên ở bên chị thêm ba ngày nữa. Bức thư có đoạn nói rằng:

“Toàn thể gia đình kính thương…con viết mấy dòng cuối cùng trước khi đi “nghiên cứu bí mật lòng đất”. Xin mẹ đừng buồn để sống đến ngày chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…”

“Em yêu thương!…Anh rất muốn được sống mãi bên em, song vì chiến tranh thì em ơi hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Giờ đây anh biết nói gì với em chỉ mong em khỏe yêu đời…Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới công anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào Thị xã Quảng Trị qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hi sinh khi đưa hàng qua sông. Từ Thị xã qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về “Nhan Biều 1”. Nếu tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Về đấy sẽ tìm thấy ghi dòng chữ đục trên mảng tôn. Thôi nhé, đấy là có điều kiện, còn không thì em cứ làm tốt những điều anh dặn ở trên là tốt lắm rồi…”

Bức thư dự cảm về sự hy sinh của Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh
Bức thư dự cảm về sự hy sinh của Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh.

Lá thư anh viết đã ở lại cùng hành trang người lính trong trận đánh đêm ấy. Bức thư anh viết vội và chưa kịp gửi, có lẽ quân địch lại đến giội bom và nã pháo. Đồng đội đã trao lại kỷ vật cho chị Đặng Thị Xơ – vợ anh. Nhòe trong nước mắt ôm kỷ vật của chồng, chị Xơ – 6 ngày làm vợ và đằng đẵng 30 năm tìm nơi chồng yên nghỉ. Những người lính như chồng chị, trước khi vượt sông, họ chuẩn bị sẵn sàng cho buổi lễ truy điệu chính mình: gửi thư, đục tên trên bảng tôn để đồng đội chôn cất…sẵn sàng và ung dung đi vào cõi chết vì nhiệm vụ với Đảng, với Cách Mạng, với nhân dân. Lá thư được chị Đặng Thị Xơ coi như kỷ vật thiêng liêng. Mãi đến khi tìm được mộ anh, người ta mới biết được câu chuyện về lá thư này. Chỉ khác một điều duy nhất trong tiên đoán của anh, ngôi mộ anh được tìm thấy ở thôn Thượng Phước, ngay sát cạnh thôn Nhan Biều 1. 30 năm đằng đẵng, chị Xơ tìm chồng khắp các vùng đất quanh trận địa, cuộc sống đổi thay, địa danh đổi khác manh mối chỉ là những lời anh dự đoán nơi mình sẽ được đồng đội chôn cất. Năm 2002, được sự giúp đỡ của đồng đội anh, chị tìm về lần nữa và xác định khu mộ có thể lạc giữa bãi sắn mênh mông trên nền đất cũ của bà Nguyễn Thị Ngân thôn Thượng Phước hiện được con trai bà canh tá. Tưởng rằng vô vọng nhưng như một cơ duyên ước hẹn, chị tìm được anh vẹn nguyên cùng hành trang người lính tuổi trẻ với dòng tên đục trên mảnh tôn như anh dặn dò. Chị tìm được anh trong nước mắt mãn nguyện của duyên vợ chồng và lá thư thiêng liêng của anh là kỷ vật sống động cho một thời tuổi trẻ hào hùng, những người lính như anh đã sống trọn vẹn cuộc đời cho Tổ quốc.

Di ảnh liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Bức ảnh được chụp năm anh 17 tuổi, sinh viên trường ĐH Xây Dựng
Di ảnh liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Bức ảnh được chụp năm anh 17 tuổi, sinh viên trường ĐH Xây Dựng. Ảnh: Kenh14

Có biết bao người phụ nữ đã chờ đợi tin của những người thương yêu ngã xuống ở Quảng Trị như chị Xơ. Khoảng cuối năm 2000, khi nghiệm thu công trình đường ống nước Thành Cổ, có một đoạn cao hơn thiết kế 30cm, cần sửa đổi. Khi đào sâu xuống họ bắt gặp bốn bộ hài cốt liệt sỹ với những kỷ vật còn vẹn nguyên. Trong đó có di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng, Chính trị viên phó, tiểu đoàn K3 Tam Đảo. Tìm theo nội dung trong bức thư của đồng chí đã dẫn đến một cuộc đoàn viên muộn màng trong nước mắt mãn nguyện, minh oan cho thân phận một người vợ, người con liệt sỹ. Trung úy Lê Binh Chủng sinh năm 1944 ở xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Trên đường hành quân vào Nam, đơn vị anh dừng lại Đồng Cao, Bố Trạch, Quảng Bình. Ở đây anh gặp và yêu nữ dân quân Phạm Thị Biển Khơi. Hai bên đã báo cáo tổ chức nhưng chưa kịp làm lễ cưới thì anh Chủng nhận nhiệm vụ vào chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Chưa kịp làm lễ cưới, chưa kịp báo tin cho gia đình thì anh nhận lệnh vượt Vỹ tuyến 17 vào Quảng Trị. Lá thư cuối cùng chị Biển Khơi viết cho anh đề ngày 15/5/1972, báo tin họ có con. Chị viết:

“Cầm bút biên thư cho anh trong lúc chiến trường Trị Thiên đang thắng to. Tin vui bay về hậu phương làm cho mọi người dân lòng đầy sung sướng. Tự hào thay trong những người chiến thắng đó có anh, người mà em gửi gắm bao niềm thương nỗi nhớ… Em bận lắm, vừa thu hoạch mùa vừa huấn luyện để sẵn sàng đối phó với địch. Cho em và con gửi lời thăm sức khỏe tới các anh trong đơn vị. Em và con gửi anh cái hôn trìu mến! Biển Khơi”.

Anh dự định kết thúc chiến dịch sẽ về thăm con và thưa chuyện gia đình nhưng anh đã ở lại Thành Cổ mãi mãi. Những cựu chiến binh đã chiến đấu giữ chốt Thành cổ kể rằng, vào cuối tháng 7/1972, trong một cuộc chiến đấu khốc liệt giữa ta và địch, một quả bom dù của địch đã đánh trúng hầm chỉ huy của Tiểu đoàn 3, còn 7 chiến sỹ bị mắc kẹt trong đó. Khi hầm sập, 7 chiến sỹ vẫn liên lạc ra ngoài bằng máy vô tuyến. Tiểu đoàn 3 đã huy động lực lượng cấp cứu nhưng vì lớp bê tông bịt nắp hầm quá dày và kiên cố nên không có cách nào cứu hộ được, ứa nước mắt chấp nhận hy sinh.

Trong bức điện cuối cùng, anh Chủng và đồng đội còn thông báo:

“Địch đang tiến vào trận địa… Chúng tôi nghe rất rõ bước chân của chúng… Chúng đang đi trên nóc hầm của chúng tôi… Yêu cầu các đồng chí dùng pháo bắn cấp tập và hãy bắn thẳng lên hầm của chúng tôi… Xin gửi lời chào chiến thắng và vĩnh biệt…!”.

Chị Biển Khơi cùng con bắt đầu những tháng ngày vất vả của việc “không chồng mà có con” trong thời lửa đạn. 30 năm sau, lá thư từ lòng đất đã minh oan tất cả sự thật. Một cuộc đoàn viên muộn màng khi ông bà nội ôm đứa cháu trai 30 tuổi mà cứ ngỡ như ôm con trai mình thuở nào…Những dòng thư, những trang nhật ký tưởng chừng như lặng câm nhưng lại viết lên cả một thời hoa lửa dữ dội. Vậy là cho đến phút cuối cùng trước khi ra đi, cái mà người lính chiu chắt lại cho cuộc đời không chỉ là niềm tin, là lý tưởng mà còn là những hạnh phúc, thanh thản cho những người thương yêu đang sống ở trên đời.
 
Do hàng ngàn chiến sỹ ta cho đến hôm nay vẫn còn nằm dưới mảnh đất này, vì thế mà các công trình dưới thời nhà Nguyễn sẽ không còn được phục dựng lại nữa. Thành Cổ được xây dựng thành một công viên văn hoá, tưởng niệm và tri ân tôn vinh những người đã vĩnh viễn nằm nơi lại đây.

Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ trong Thành Cổ Quảng Trị
Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ trong Thành Cổ Quảng Trị. Ảnh: Hồ Cầu – TTXVN

“Vua chiến trường” Đoàn Công Tính và những bức ảnh lịch sử quý giá về Thành cổ Quảng Trị

Cựu phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính có biệt danh là “Vua chiến trường” sinh năm 1943 tại Hải Phòng và lớn lên tại quê mẹ ở huyện Vụ Bản (Nam Định). Ông cộng tác với báo Quân đội Nhân dân và chính thức vào làm việc năm 1969 và sau đó được phân công đi chiến trường ngay. Lúc bấy giờ đang vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đi dọc một mạch từ Bắc vào Nam, băng mình trong lửa đạn để ghi lại những hình ảnh hào hùng của một thời khó quên.

“Nụ cười chiến thắng dưới chân Thành cổ Quảng Trị” một trong những bức ảnh nổi tiếng của PV chiến trường Đoàn Công Tính.
PV Đoàn Công Tính sau khi bấm máy bức ảnh nổi tiếng
PV Đoàn Công Tính sau khi bấm máy bức ảnh nổi tiếng ” Nụ cười Thành Cổ”.
Đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu (1972) – bức ảnh của Đoàn Công Tính từng đoạt Huy chương Vàng Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ)

Ngay lúc chụp, tôi đã biết đây sẽ là một bức ảnh mà bấy lâu nay mình mơ ước”, ông cho biết. Tư thế của người lính rất đẹp, hành động phất cờ thể hiện khí thế chiến thắng của quân ta, hình ảnh thương vong của đối phương là yếu tố hết sức quan trọng để để nói lên sự thất bại thảm hại của Mỹ ngụy đồng thời tố cáo chiến tranh buộc con người ta phải bắn giết nhau.

– PV Đoàn Công Tính nói về bức ảnh “Đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu”

“Nắng dưới lòng đất” – Một trong những tác phẩm của PV Đoàn Công Tính

Với ước tính thương vong quân ta lên tới 10.000 đến 15.000 người trong đó có rất nhiều tân binh, Quảng Trị “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 là một túi bom, mỗi mét vuông đất mà chiến sỹ ta giành được ở Thành Cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu. Hàng ngàn chiến sỹ đã hi sinh tại đây vẫn chưa lấy được hài cốt vì khói lửa bom đạn quá nhiều. Xương máu, linh hồn và tên các anh đã hóa thân thành hình hài đất nước ngày nay. Chiến tranh không bao giờ thay đổi.

Phim tài liệu: Thành cổ Quảng Trị - Ký ức vọng về
Phim tài liệu: Thành cổ Quảng Trị – Ký ức vọng về

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính Hàn Quốc tại Việt Nam

============================

Bài viết được chọn lọc và tổng hợp bởi Lê Tiến Nguyên từ Wikipedia, tuoitre, baoquankhu4, tuoitrebinhduong, baotintuc, zingnews.

Nhân vật lịch sử

Hai chiến tuyến trong một gia đình

Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ Nhật, Pháp, Mỹ và Trung Quốc, có nhiều trường hợp người trong cùng gia đình đứng ở 2 chiến tuyến đối lập nhau.
52
Hai chiến tuyến trong một gia đình

Bài viết này sẽ kể tên vài trường hợp thú vị trong lịch sử. Xin lưu ý là mình không đề cao hay ca ngợi bất kỳ một lực lượng ngoại bang hoặc bù nhìn nào cả! Hãy đơn giản xem đây là một thông tin thú vị về lịch sử Việt Nam.

Trần Văn Dõi – Trần Văn Hương

Trần Văn Dõi, còn có bí danh là Lưu Vĩnh Châu, sinh năm 1924 tại Vĩnh Long. Ông là con trai trưởng của Trần Văn Hương – cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Lưu Vĩnh Châu tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong năm 1944, rồi gia nhập Vệ Quốc Đoàn của Việt Minh chống quân Pháp tái xâm lược. Giữa năm 1946 quân Pháp tấn công Tây Ninh, ông được lệnh ra bắc xin chi viện cho tiền tuyến miền nam. Tuy nhiên lúc đó tình hình ngoài bắc cũng căng thẳng không kém nên ông không trở về nam nữa.

Ông tham gia chiến đấu trong đội tự vệ Bạch Mai trong ngày Toàn quốc Kháng chiến vào ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sau này ông là một trong số ít những người Nam Bộ trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông ở lại miền bắc và được phong quân hàm Đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm việc tại Tổng cục Hậu cần cho đến ngày đất nước thống nhất. Lưu Vĩnh Châu mất năm 2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại Vĩnh Long. Ông từng là thầy giáo tại Trường College Le Myre De Villers tại Mỹ Tho (nay là trường THPT Nguyễn Đình Chiểu). Ông từng giữ chức Đốc học Tây Ninh một thời gian. Sau Cách mạng tháng Tám ông có tham gia Việt Minh một thời gian nhưng rồi bỏ. Sau khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền năm 1955, Trần Văn Hương được bổ nhiệm là Đô trưởng Sài Gòn. Tuy vậy sau đó ông bất mãn với chính quyền Diệm và bày tỏ sự ủng hộ với lực lượng đảo chính năm 1963.

Trần Văn Hương từng giữ chức Thủ tướng VNCH thời gian ngắn (1964) rồi Phó Tổng thống (1971-1975). Ông cũng giữ chức Tổng thống trong 7 ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trước khi trao quyền lại cho Dương Văn Minh.

Sau năm 1975, con trai Lưu Vĩnh Châu trở về gặp ông, lúc này ông mới biết con mình còn sống (trước đó ông Hương nghĩ con mình đã chết). Gia đình ông được hội ngộ và sống cùng nhau tại TP HCM. Trần Văn Hương mất năm 1982 tại TP HCM. Ngoài ra ông Hương còn có một người con út là Trần Văn Đính (sinh năm 1925), từng là phụ tá của ông. Hiện ông Đính đang sống tại Mỹ.

Thông tin thêm: con gái của ông Lưu Vĩnh Châu lấy chồng Hungary và sinh sống tại đó. Họ có một người con trai là Sztancsek Trần Szilard Việt – một huấn luyện viên bóng đá tại Hungary. Năm 2018 Szilard đã về Việt Nam theo lời hứa với ông ngoại và hiện đang công tác tại Học viện Juventus Thành phố Hồ Chí Minh.

Lưu Vĩnh Châu cùng người con gái (trái), Trần Văn Hương khi là thủ tướng (dưới) và Trần Văn Đính ở Mỹ (phải)
Lưu Vĩnh Châu cùng người con gái (trái), Trần Văn Hương khi là thủ tướng (dưới) và Trần Văn Đính ở Mỹ (phải)

Dương Văn Nhựt – Dương Văn Minh

Dương Văn Nhựt, còn gọi là Dương Thanh Nhựt hoặc Mười Ty, sinh năm 1918 tại Mỹ Tho. Ông là Thiếu tướng QDNDVN đã trải qua 2 cuộc kháng chiến. Anh trai của ông chính là Dương Văn Minh – Tổng thống cuối cùng của VNCH. Ông được Ban Binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam cử đi bí mật gặp gỡ và tác động lên các quyết định của anh trai mình. Dương Văn Nhựt mất năm 1999 tại TP HCM. Thông tin về ông khá ít ỏi.

Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại Mỹ Tho. Ông gia nhập Quân đội Thuộc địa Pháp năm 1939. Ông từng bị quân Nhật bắt sau khi đảo chính Pháp năm 1945, và có tham gia Việt Minh một thời gian. Sau khi Pháp chiếm được Nam Bộ, ông tái phục vụ trong quân đội Pháp. Dương Văn Minh là một trong số những sĩ quan ủng hộ Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại. Và trớ trêu thay chính ông về sau là người chủ mưu đảo chính phế truất lại Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính ông giữ chức Quốc trưởng từ 1963 đến 1964, được thăng cấp Đại tướng năm 1964. Trong giai đoạn biến động của VNCH ông bị ép lưu vong ra nước ngoài vài năm.

Với sự tan vỡ nhanh chóng của VNCH năm 1975, Dương Văn Minh cùng các thành phần thứ 3 chủ trương thương thuyết với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chấm dứt chiến tranh. Theo hồi ký một số tướng tá VNCH thì ngày 28/4/1975 tướng tình báo Pháp Francois Vanusseme tới gặp Dương Văn Minh và đề nghị ông kêu gọi Trung Quốc đem quân tấn công miền bắc để giải cứu VNCH. Lúc đó ông đã được em trai là Dương Văn Nhựt (lúc này là Đại tá Quân Giải phóng) thuyết phục từ trước nên đã từ chối và nói:

“Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc.”

Dương Văn Minh trở thành Tổng thống cuối cùng của VNCH vào ngày 28/4/1975. Trưa ngày 30/4/1975 ông đợi Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập để bàn giao chính quyền và lên Đài phát thanh Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ông được đánh giá là đã góp phần chấp dứt chiến tranh và ngăn đổ máu vào những giờ phút cuối cùng. Sau này ông xuất cảnh sang Pháp và sang Mỹ định cư. Dương Văn Minh mất năm 2001 tại Mỹ.

Dương Văn Minh cùng Quân Giải Phóng tại Dinh Độc Lập
Dương Văn Minh cùng Quân Giải Phóng tại Dinh Độc Lập

Bùi Kỷ – Bùi Diễm

Bùi Kỷ sinh năm 1888 tại Hà Nam. Ông là nhà giáo Nho học và nhà nghiên cứu văn hóa quan trọng của Việt Nam trong thế kỷ 20. Từ nhỏ ông đã được tiếp cận nhiền nền giáo dục khác nhau của Nho giáo, Việt Nam, Trung Quốc, Pháp… Ông từng gặp gỡ nhiều nhà cách mạng yêu nước như Phan Châu Trinh, vì lẽ đó mà ông từ chối lời mời cộng tác từ Pháp và triều đình Nhà Nguyễn. Từ năm 1932 Bùi Kỷ dạy học tại Trường tư thục Thăng Long, một trong những học trò của ông chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau Cách mạng tháng Tám, Bùi Kỷ được chính phủ VNDCCH mời tham gia giúp nước. Ông giữ các chức vụ quan trong trong phong trào xóa nạn mù chữ. Ngoài ra ông còn là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và ngữ văn, nổi bật nhất là “Quốc văn cụ thể”. Bùi Kỷ mất năm 1960 tại Hà Nội. Người con trai duy nhất của ông là Bùi Diễm, cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ.

Bùi Diễm sinh năm 1923 tại Hà Nam. Ông hoạt động chính trị khi học tại Trường Bưởi ở Hà Nội (nay là Trường THPT Chu Văn An) và là người ủng hộ nhiệt tình Đại Việt Quốc dân Đảng. Ông vận động ủng hộ chính phủ thân Nhật của Trần Trọng Kiêm. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông chống lại Việt Minh. Ông di cư vào nam nhưng không tham gia chế độ Ngô Đình Diệm vì bất đồng.

Khi Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng VNCH, Bùi Diễm mới ra chấp chính với chức vụ Tổng trưởng Phủ Thủ tướng năm 1965 và Ủy viên ngoại giao trong Ủy ban Hành pháp Trung ương năm 1965-1967. Ngoài ra ông còn làm Đại sứ VNCH tại Washington DC, Mỹ từ 1967 đến 1972. Sau năm 1975 thì ông tị nạn tại Mỹ. Có cha là nhân sĩ của Việt Minh nên ông ít khi nào nhắc về gia đình mình. Đến tận bây giờ ông cũng chưa bao giờ về lại cố hương thăm mộ cha.

Bùi Kỷ, mặc áo dài khăn đóng, cùng các chiến sĩ Vệ Quốc Quân tại chiến khu và Bùi Diễm khi là Đại sứ tại Mỹ
Bùi Kỷ, mặc áo dài khăn đóng, cùng các chiến sĩ Vệ Quốc Quân tại chiến khu (trái) và Bùi Diễm khi là Đại sứ tại Mỹ (phải)

Phan Huy Lê – Phan Huy Quát

Phan Huy Lê sinh năm 1934 tại Hà Tĩnh. Ông là giáo sư, nhà giáo nhân dân và nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam. Cha ông là Phan Huy Tùng từng làm cho triều đình Nhà Nguyễn. Một người anh trai cùng cha khác mẹ với ông là Phan Huy Quát – cựu Thủ tướng VNCH. Cả 2 người thuộc dòng dõi Phan Huy nổi tiếng với Phan Huy Ích, Phan Huy Chú…

GS Phan Huy Lê tốt nghiệp ngành Sử – Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1956. Ông được nhận làm Trợ lý giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông được coi là “Tứ trụ Sử gia Việt Nam” (Lâm, Lê, Tấn, Vượng). Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam từ 1990 đến 2015. Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng danh giá như Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học (2016), Giải thưởng Quốc tế Văn hóa Châu Á Fukuoka của Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Pháp (2002)… Phan Huy Lê mất năm 2018 tại Hà Nội.

Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Hà Tĩnh. Ông là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng và ủng hộ giải pháp Quốc gia Việt Nam do Pháp lập ra. Trong giai đoạn loạn binh đảo chính VNCH, ông giữ chức Tổng trưởng Ngoại giao (1964) rồi Thủ tướng (1965). Khi quân đội Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng năm 1965 mà không thông báo trước cho VNCH, ông được một sĩ quan Mỹ yêu cầu soạn thảo một thông cáo chính thức để hợp thức hóa sự xâm lược của quân Mỹ. Đến tận lúc đó ông mới biết Mỹ đã cho quân đội đặt chân lên Việt Nam. Ông chỉ đạo: “Viết càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi”.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, ông và gia đình bị kẹt lại vì không kịp lên máy bay đi di tản. Ông không ra trình diện chính quyền mới và tìm cách vượt biên. Phan Huy Quát bị bắt giam vào nhà lao Chí Hòa rồi mất tại đó năm 1979.

Phan Huy Lê và Phan Huy Quát khi làm thủ tướng
Phan Huy Lê (trái) và Phan Huy Quát khi làm thủ tướng (phải)

Vũ Như Canh – Vũ Văn Mẫu

Vũ Như Canh sinh năm 1920 tại Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông là giáo sư, nhà giáo nhân dân và tiến sĩ toán – lý. Cha mẹ ông có cửa hàng buôn bán trên phố Hàng Nón. Nhưng ông không theo nghiệp kinh doanh mà theo đường học hành. Lúc nhỏ Vũ Như Canh rất ham chơi và bị lưu ban mấy năm. May mà được người anh trai là Vũ Văn Mẫu kèm cặp để rồi một năm học nhảy….4 lớp! Năm 1938 ông sang Pháp du học và tốt nghiệp Tiến sĩ Toán – Lý tại Trường Đại học Montpellier. Năm 1949 ông về nước tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Cơ bản Đông Dương ở Hà Nội.

Sau khi quân Pháp thua trận, ông từ chối di tản vào nam cùng anh trai mà ở lại Hà Nội. Vũ Như Canh trở thành một trong những giáo sư kỳ cựu của VNDCCH cùng với GS Lê Văn Thiêm, Ngụy Như Kon Tum, Dương Trọng Bái… GS Vũ Như Canh là người đặt nền móng cho Khoa Vật lý của cả 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội). Nhiều học trò của ông sau này đã trở nhành những nhà khoa học lỗi lạc như PGS-TS Vũ Thanh Khiết, GS-TS Đàm Trung Đồn, GS Đào Vọng Đức…

GS Đàm Trung Đồn nhớ lại một kỷ niệm với người thầy của mình như sau:

“Thời kì sắp tiếp quản Hà Nội, tôi cùng một số anh em trong Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội tổ chức đi vận động các thầy cô giáo không di cư vào Nam. Cùng với một anh nữa, tôi đến nhà thầy Vũ Như Canh, định bụng nói: Thầy ở lại đây để dạy cho chúng em. Đến nơi, chưa kịp nói gì thì thầy Canh đã nói: Tôi ở lại Hà Nội chứ tôi không đi vào Sài Gòn. Và thầy nói thêm: Chúng tôi phải ở lại. Sinh viên các anh ở lại thì chúng tôi cũng phải ở lại chứ”.

Vũ Văn Mẫu sinh năm 1914 tại Hà Đông. Ông là tiến sĩ luật và chính trị gia VNCH. Ông chính là anh trai của GS Vũ Như Canh. Ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Luật tại Pháp năm 1940 rồi về nước giảng dạy. Sau Hiệp định Geneva ông di tản vào nam trong khi người em trai ở lại miền bắc. Từ đó 2 anh em mỗi người li biệt một nơi. Vũ Văn Mẫu được bổ nhiệm làm Chánh nhất Tòa Phá án VNCH. Ông được đánh giá là một học giả uy tín và uyên bác về luật. Vũ Văn Mẫu từng làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH từ 1955 đến 1963. Nhưng vì phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo của Ngô Đình Diêm nên ông tự cạo đầu và từ chức.

Vũ Văn Mẫu cũng là thượng nghị sĩ VNCH và được Dương Văn Minh đề cử làm Thủ tướng 3 ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ. Sau giải phóng ông được phép xuất cảnh sang Pháp định cư rồi mất tại đó năm 1998.

Vũ Như Canh và Vũ Văn Mẫu lúc trẻ
Vũ Như Canh (trái) và Vũ Văn Mẫu lúc trẻ (phải)

Lê Văn Huấn – Lê Văn Hoạch

Lê Văn Huấn, không rõ năm sinh năm mất, là giáo sư và nhà giáo yêu nước tại Cần Thơ. Ông chính là em trai của Lê Văn Hoạch – cựu Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ do Pháp dựng lên. GS Lê Văn Huấn từng dạy học tại Trường Petrus Ký ở Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong). Ông tham gia phong trào chống Pháp cùng với các nhà cách mạng gạo cội ở miền nam như Thái Văn Lân, Nguyễn Hữu Thọ, Lưu Văn Lang, Kha Vạn Cân… Ông cũng là kỹ sư phát triển Đài Tiếng nói Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thông tin về ông không nhiều, chỉ biết chức vụ sau này của ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lê Văn Hoạch sinh năm 1898 tại Cần Thơ. Ông tốt nghiệp bác sĩ tại Hà Nội năm 1923. Ông theo đạo Cao Đài. Sau khi cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh thân Pháp tự sát, ông được Pháp đưa lên làm Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ từ 1946 đến 1947. Vì chỉ là chức vụ bù nhin nên không có thực quyền. Sau khi VNCH thành lập thì ông không còn tham gia chính trường. Lê Văn Hoạch mất năm 1978 tại quê nhà.

Lê Văn Hoạch

Cao Văn Khánh – Cao Văn Chiểu, Cao Văn Tường

Cao Văn Khánh sinh năm 1917 tại Huế. Ông thuộc dòng dõi quý tộc Cao Văn nổi tiếng của Nhà Nguyễn. Ông tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) và từng sinh hoạt Hướng đạo tại Pháp. Nhờ hoạt động hướng đạo mà ông quen biết với Tạ Quang Bửu, Phan Anh… những người về sau trở thành những nhà cách mạng nổi tiếng. Khi Đế quốc Việt Nam được Nhật Bản hậu thuẫn thành lập ông được mời tham gia trường Quân sự Thanh niên Tiền tuyến.

Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ ông bỏ chính phủ Trần Trọng Kim theo Việt Minh và giữ chức Phó Chủ tịch Giải phóng quân Huế. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông từng theo đoàn quân Nam tiến vào bảo vệ Bình Định. Cao Văn Khánh lần lượt giữ các chức vụ Khu trưởng Khu V, Phó Chỉ huy Ủy ban Hành chính Kháng chiến Miền Nam, Đại đoàn phó Đại đoàn 308 v.v… Ông đã trải qua những trận đánh giòn giã như Sông Thao (1949), Biên Giới (1950), Quang Trung (1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (1954). Trong chiến dịch Biên giới, ông là người đánh gục Binh đoàn Le Page và Binh đoàn Charton, bắt sống tướng Charton. Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ông được sang học quân sự tại Liên Xô rồi về nước làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục Quân. Từ năm 1966 Cao Văn Khánh tiếp tục đi khắp chiến trường Trị Thiên, Hạ Lào, Tây Nguyên… Ông chính là cánh tay phải đắc lực của tướng Lê Trọng Tấn trong chiến thắng Hạ Lào oanh liệt năm 1971 (phía Mỹ gọi là Chiến dịch Lam Sơn 719). Ngoài ra ông cũng biên soạn “Năm phương thức tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc” để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979.

Cao Văn Khánh được phong hàm Trung tướng QDNDVN năm 1980, cũng là năm ông mất. Điều thú vị là ông chưa bao giờ là đảng viên Đảng Cộng sản. Ông có 3 người anh trai là Cao Văn Huy, Cao Văn Chiểu và Cao Văn Tường. Cả 4 anh em đều tốt nghiệp ngành luật.

Cao Văn Chiểu, không rõ năm sinh năm mất, từng là thành viên Viện Dân biểu Trung Kỳ thời Pháp thuộc. Khi Pháp muốn sử dụng chiều bài Bảo Đại để lôi kéo người Việt, ông Chiểu đã cùng phái đoàn do Phan Văn Giáo dẫn đầu sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại về nước chấp chính. Sau khi VNCH được Mỹ hậu thuẫn thành lập, ông là Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục Quốc hội VNCH. Ông được xem là một trong những cố vấn gần gũi của Ngô Đình Diệm. Từ năm 1974 ông là Đại sứ VNCH tại Ý. Số phận của ông về sau không rõ.

Cao Văn Tường, không rõ năm sinh năm mất, từng 3 lần đắc cử dân biểu VNCH. Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội VNCH (1956-1963) và Bộ trưởng Đặc trách Liên lạc Quốc hội thời Nguyễn Văn Thiệu (1969). Sau năm 1975 ông đi cải tạo vài năm rồi sang định cư nước ngoài.

Riêng Cao Văn Huy thì làm nhà giáo ở miền nam và không tham gia vào chính trị.

Cao Văn Khánh cùng vợ - Tôn Nữ Ngọc Toản (ảnh trái), và Cao Văn Chiểu khi cùng phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại (ảnh phải, bìa trái)
Cao Văn Khánh cùng vợ – Tôn Nữ Ngọc Toản (ảnh trái), và Cao Văn Chiểu khi cùng phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại (ảnh phải, bìa trái)

Lâm Thị Phấn – Lâm Văn Phát

Lâm Thị Phấn sinh năm 1918 tại Cần Thơ với tên khai sinh rất Tây là Lâm Thị Elise. Cha là Lâm Văn Phận, một đại điền chủ nhưng theo Việt Minh chống Pháp. Bà có một người em trai là Lâm Văn Phát – Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thuở nhỏ bà theo học tại Trường Taberd Cần Thơ (nay là Trường Châu Văn Liêm). Cao 1m7 với khuôn mặt sắc sảo, bà được mệnh danh là “Người đẹp Tây Đô” thời đó. Thời kỳ chống Pháp bà tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc của Việt Minh tại Bạc Liêu. Nhờ trình độ học vấn cao, lại xuất thân từ điền chủ, bà được tuyển vào đội điệp báo Cần Thơ. Chính Lâm Thị Phấn đã giác ngộ một Quan hai Phòng nhì Pháp là Trần Hiến, người sau này trở thành chồng bà.

Sau Hiệp định Geneva Lâm Thị Phấn cùng chồng và cha tập kết ra bắc. Bà đi học Đại học Kinh tế và Đại học Tình báo tại Liên Xô. Năm 1962 Trung ương Cục miền Nam ra lệnh bà trở vào nam hoạt động nội tuyến vì có người em ruột là sĩ quan VNCH. Sau khi chiến tranh kết thúc bà về công tác tại Quân khu 9 với cấp bậc Đại tá. Lâm Thị Phấn mất năm 2010 tại quê nhà.

Lâm Văn Phát sinh năm 1920 tại Cần Thơ. Năm 1945 ông có theo chân cha và chị gái tham gia Thanh niên Tiền phong cướp chính quyền. Nhưng khi Pháp trở lại miền nam ông bỏ kháng chiến về lại Cần Thơ rồi nhập ngũ quân đội Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan của Pháp, ông đào ngũ ra bưng theo Vệ Quốc Đoàn. Được một thời gian ông lại về thành rồi sang Pháp học cơ khí. Mãn khóa học ông về nước và tiếp tục phục vụ quân đội Pháp.

Sau năm 1954, cha và chị gái tập kết ra bắc, Lâm Văn Phát ở lại nam phục vụ QLVNCH. Dù phục vụ khác chiến tuyến nhưng ông vẫn chăm sóc người con của chị mình chu đáo và cho ăn học tử tế. Năm 1958 ông được cử đi du học quân sự tại Mỹ. Lâm Văn Phát từng làm Tổng Giám đốc Bảo Nha Bảo an và Dân vệ, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh rồi Phó Tư lệnh Vùng 3 Chiến thuật. Vì quá khứ đổi phe nhiều lần nên người Mỹ và VNCH không tin tưởng khiến ông bất mãn. Ông đã tham gia đảo chính 4 lần với hy vọng được thăng tiến. Tại cuộc binh biến năm 1964 ông cùng Phạm Ngọc Thảo đối đầu với tướng Nguyễn Khánh và Nguyễn Chánh Thi nhưng thất bại. Năm 1965 nhóm tướng trẻ khai trừ ông khỏi quân đội và tước hết quân hàm. Năm 1975 ông được Dương Văn Minh cử làm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô những ngày cuối cùng. Thành tích tốt nhất của ông đó là…. bàn giao Bộ Tư lệnh Thủ đô cho QGP. Sau khi đi cải tạo 11 năm ông sang Mỹ định cư và mất tại đó năm 1998.

Lâm Thị Phấn cùng diễn viên Việt Trinh khi đóng bộ phim
Lâm Thị Phấn cùng diễn viên Việt Trinh khi đóng bộ phim”Người Đẹp Tây Đô” (ảnh trái), và Lâm Văn Phát (ảnh phải)

Doãn Nho – Doãn Quốc Sỹ

Doãn Nho sinh năm 1933 tại Hà Nội. Ông là nhạc sĩ nhạc cách mạng nổi tiếng và là Đại tá QDNDVN. Năm 1945 ông tham gia Đội Thiếu niên Cứu quốc của Việt Minh. Nhờ có khiếu âm nhạc từ nhỏ ông được vào đội văn công Trường Lục quân (1951) và Đoàn văn công Tổng cục Chính trị (1954). Từ 1962 đến 1964 ông du học tại Nhạc viện Kiev ở Liên Xô. Về nước ông vào chiến trường miền nam, vừa chiến đấu vừa sáng tác âm nhạc.

Doãn Nho là tác giả nhiều ca khúc cách mạng nổi tiếng như “Tiếng bước dưới quân kỳ” (một trong những quân ca chính thức của QDNDVN), “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”“Chiếc khăn piêu” v.v… Ông đoạt nhiều giải thưởng lớn như Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh (2017).

Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923 tại Hà Nội. Ông là nhà văn thời VNCH và chính là anh trai của nhạc sĩ Doãn Nho. Doãn Quốc Sỹ lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo (là con gái của nhà thơ Tú Mỡ của VNDCCH) rồi di cư vào nam năm 1954. Ông từng giảng dạy tại Trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn (1961-1962, nay là Trường Tiểu học Nguyễn Đình Chiểu), Đại học Sư Phạm Sài Gòn và Đại học Văn khoa Sài Gòn (1962-1965).

Doãn Quốc Sỹ là nhà văn nổi tiếng thời VNCH với các tác phẩm như “Khu Rừng Lau”“Ba Sinh Hương Lửa”“Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến” v.v… Nhiều tác phẩm của ông chỉ trích Việt Minh và VNDCCH. Do đó mà sau năm 1975 ông phải đi cải tạo 14 năm trời. Chính quyền liệt ông vào danh sách những tên “Biệt kích văn hóa”. Đây là một trường hợp tréo ngoe khi cả 2 anh em ruột phụng sự văn hóa cho 2 chế độ khác nhau. Trong khi người em là nhạc sĩ với các giải thưởng cấp Nhà nước thì người anh bị liệt vào hàng ngũ “nhà văn chống phá cách mạng”. Ông di cư sang Mỹ năm 1995.

Doãn Nho cùng vợ - ca sĩ Nguyệt Ánh (ảnh trái), và Doãn Quốc Sỹ ở Mỹ (ảnh phải)
Doãn Nho cùng vợ – ca sĩ Nguyệt Ánh (ảnh trái), và Doãn Quốc Sỹ ở Mỹ (ảnh phải)

Đặng Văn Quang – Đặng Mỹ Dung

Đặng Văn Quang, còn có tên là Đặng Quang Minh, sinh năm 1909 tại Vĩnh Long. Ông là nhà giáo yêu nước và hoạt động cho Việt Minh từ trẻ. Ông từng bị Pháp bắt đầy ra Côn Đảo từ 1940 tới 1945. Sau khi Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước VNDCCH, ông tham gia Tổng tuyển cử và trúng cử Đại biểu Cần Thơ của Quốc hội VNDCCH đầu tiên. Vợ ông là bà Trần Thị Pham, có 7 người con, trong đó có Đặng Mỹ Dung. Suốt 9 năm chống Pháp gia đình ông chuyển chỗ ở thường xuyên để tránh sự truy lùng của mật vụ Pháp và tay sai. Nơi ở của ông cũng là nơi các lãnh đạo Việt Minh thường lui tới họp như Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ…

Sau khi Pháp thất trận, Đặng Văn Quang cùng người con trai lớn là Đặng Văn Khôi tập kết ra bắc. Ông đã cố gắng thuyết phục vợ cùng gia đình ra bắc, nhưng vợ và nhà ngoại có tư tưởng thủ cựu không chấp nhận lý tưởng cộng sản nên ở lại. Trước khi từ biệt ông buộc lòng phải đổi giấy tờ của những người con ở lại nam sang họ Trần của mẹ để tránh tai mắt của Mỹ, và hủy đi tất cả hình ảnh gia đình có mặt ông trong đó. Đặng Văn Quang tham gia ngành ngoại giao VNDCCH. Một thời gian ông trở lại miền nam tham gia lãnh đạo MTDTGPMN. Ông là Đại sứ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Liên Xô tới năm 1975. Sau khi thống nhất đất nước ông Quang tiếp tục làm ngoại giao và cố gắng liên lạc với vợ và các con tại Mỹ, nhưng ông không ngờ đó lại bắt đầu một chuỗi bi kịch gia đình. Đặng Văn Quang qua đời năm 1986 tại TP HCM. Còn người con trai lớn Đặng Văn Khôi gia nhập QDNDVN và tốt nghiệp sĩ quan tên lửa tại Liên Xô.

Đặng Mỹ Dung sinh năm 1945 tại Cần Thơ. Bà là con gái của cựu Đại sứ Đặng Văn Quang. Thời VNCH bà làm việc cho phòng tâm lý chiến Vùng IV chiến thuật và Câu lạc bộ Rex BOQ của Mỹ. Vì người cha đã sửa lại giấy khai sinh nên bà lớn lên với tư cách “không cha”. Năm 1968 bà kết hôn với trung úy hải quân Mỹ là John Krall, nên sau này bà lấy tên Mỹ là Yung Krall.

Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Đặng Mỹ Dung cố gắng đưa mẹ và chị em còn lại sang Mỹ. Bà năn nỉ người sĩ quan tư lệnh phó của Mỹ và hứa sẽ cộng tác với chính phủ Mỹ, chỉ cần gia đình bà được di tản khỏi Việt Nam. Sau này tại Mỹ, bà giữ đúng lời hứa, gia nhập làm đặc vụ CIA. Nhân dịp phái đoàn CHMNVN sang Tokyo dự hội nghị quốc tế, CIA yêu cầu bà bay sang gặp cha. 2 cha con gặp nhau sau 20 năm, nhưng sự khác biệt trong ý thực hệ quá lớn nên không thể hiểu nhau. Bà đã nói thẳng vào mặt cha mình: “Chế độ của ba đã cướp nước của con”. Cha bà trả lời: “Ba không tìm cách thay đổi con nhưng xin con đừng dày xéo những xác tín của Ba… Nếu con thoải mái với điều con tin tưởng thì Ba cũng mừng thấy con hài lòng!”.

Đặng Mỹ Dung tiếp tục lợi dụng tình cảm với cha mình theo lệnh của CIA để thâm nhập vào cán bộ và Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ và Pháp. Nhờ những hoạt động của bà mà CIA vây bắt được điệp viên Ronald Humphrey và Trương Đình Hùng khi sắp chuyển tài liệu mật cho Đại sứ Đinh Bá Thi tại New York. Dung cũng là cộng sự đắc lực giúp Mỹ phá vỡ các tổ chức Việt kiều và người Mỹ “thân Việt Nam” tại Washington D.C, San Francisco… Thậm chí bà còn từng cố gắng lôi kéo anh trai Đặng Văn Khôi bỏ sang Mỹ nhưng không thành. Theo cuốn hồi ký của bà, bà từng thảo luận với CIA bắt cóc cha và anh trai khi 2 người sang Mỹ thăm gia đình, nhưng cuối cùng đành từ bỏ vì biết cha mình sẽ không bao giờ phản bội lại lý tưởng. Sau chuyện đó bà xin nghỉ việc dù CIA cố gắng níu giữ với lời hứa hẹn tăng lương và thăng cấp.

Gia đình ông Đặng Văn Quang có thể xem là bi kịch bật nhất của cuộc chiến khi vợ – chồng, cha – con, anh – em vĩnh viễn không thể nhìn mặt nhau. Những hy sinh của người cha để bảo vệ các con được trả bằng sự phản bội từ chính con ruột của mình.

Đặng Văn Quang khi là Đại sứ CHMNVN tại Liên Xô (ảnh trái, bìa trái), Đặng Mỹ Dung hiện nay khi ở Mỹ (ảnh phải) và Đặng Văn Khôi trong ngày tốt nghiệp sĩ quan tại Liên Xô (ảnh dưới)
Đặng Văn Quang khi là Đại sứ CHMNVN tại Liên Xô (ảnh trái, bìa trái), Đặng Mỹ Dung hiện nay khi ở Mỹ (ảnh phải) và Đặng Văn Khôi trong ngày tốt nghiệp sĩ quan tại Liên Xô (ảnh dưới)

Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hạo – Cao Xuân Vỹ

Cao Xuân Huy sinh năm 1900 tại Nghệ An. Ông là con của cựu Thượng thư Cao Xuân Tiếu thời nhà Nguyễn, và là cháu nội của cựu Tổng đốc Cao Xuân Dục. Ông chính là cha đẻ của nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo. Thuở nhỏ ông theo học chữ Hán, sau này tiếp cận nền giáo dục của thực dân Pháp. Ông vừa đi dạy vừa tham gia phong trào yêu nước chống thực dân. Ông từng giảng dạy tại nhiều trường ở Huế, Sài Gòn. Sau khi VNDCCH được thành lập, ông được mời ra giảng dạy môn triết học phương Đông. Ông là giáo sư khoa văn Trường Đại học Việt Nam tại chiến khu IV, rồi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông chuyên nghiên cứu về Trung Quốc học, Nho giáo, Lão giáo, nhận thức luận, cấu trúc luận, văn hóa Việt Nam cổ đại, thậm chí là Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Là nhà triết học và ngôn ngữ học có tiếng, ông được cử làm Trưởng ban Hán – Nôm thuộc Viện Văn học năm 1959. Cao Xuân Huy mất năm 1983 tại TP HCM.

Cao Xuân Hạo sinh năm 1930 tại Hà Nội. Cha ông là Cao Xuân Huy, ông nội là Cao Xuân Tiếu. Ông là giáo sư ngôn ngữ học và dịch giả nổi tiếng của Việt Nam. Ông có người anh họ là Cao Xuân Vỹ – cựu lãnh đạo phong trào thanh niên của VNCH. Cả 2 người đều thuộc dòng dõi Cao Xuân nổi tiếng ở Nghệ An với các nhà danh sĩ như Cao Xuân Dục (ông cố), Cao Xuân Tiếu (ông nội)…Nhờ có cha cũng là giáo sư nên từ nhỏ ông được cho ăn học tử tế. Ông tự học và nói lưu loát tiếng Pháp. Ông từng làm giảng viên khoa ngôn ngữ tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông chuyên nghiên cứu về cấu trúc Tiếng Việt và dịch nhiều sách nước ngoài nổi tiếng như “Chiến tranh và hòa bình”“Người con gái viên đại úy”“Tộc ác và hình phạt”“Khải Hoàn Môn” v.v… Ông được trao tặng Giải thưởng về Dịch thuật của Hội Nhà văn năm 1985. Cao Xuân Hạo mất năm 2007 tại TP HCM.

Cao Xuân Vỹ sinh năm 1920 tại Nghệ An. Cha ông là Cao Xuân Tảo – anh ruột của Cao Xuân Huy. Ông và Cao Xuân Hạo là anh em họ, đều là cháu nội của Cao Xuân Tiếu. Ông từng tham gia phong trào Việt Minh giai đoạn đầu rồi bỏ sang Việt Cách. Ông gặp gỡ Ngô Đình Diệm rồi gia nhập Đảng Cần lao. Dù là phật tử nhưng ông là người ủng hộ nhiệt tình chế độ Diệm – Nhu. Ông từng giữ chức Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao (thuộc Bộ Lao động và Thanh niên) và Phó Thủ lãnh Phong trào Thanh niên Cộng hòa (Thủ lãnh là Ngô Đình Nhu). Cao Xuân Vỹ được xem là nhân chứng lịch sử vì từng tháp tùng Ngô Đình Nhu đi thương thuyết với đại diện VNDCCH là Phạm Hùng về vấn đề hiệp thương giữa 2 chế độ. Ông cũng là người ở bên cạnh anh em nhà Ngô khi xảy ra đảo chính năm 1963. Ông bị quân đảo chính giam giữ đến tận năm 1967 mới thả. Sau giải phóng ông sang Mỹ định cư rồi mất tại đó năm 2013.

Cao Xuân Huy cùng các đồng đội tại chiến khu (ảnh trái, bìa trái), Cao Xuân Vỹ ở Mỹ (ảnh phải) và Cao Xuân Hạo (ảnh dưới)
Cao Xuân Huy cùng các đồng đội tại chiến khu (ảnh trái, bìa trái), Cao Xuân Vỹ ở Mỹ (ảnh phải) và Cao Xuân Hạo (ảnh dưới)

Nguyễn Phúc Ưng Úy – Nguyễn Phúc Bửu Hội

Nguyễn Phúc Ưng Úy sinh năm 1889 tại Huế, thuộc dòng dõi hoàng thất Nhà Nguyễn, nhánh Tuy Lý Vương. Khi mới 16 tuổi ông được bổ nhiệm vào làm ở Tòa Công sứ Thừa Thiên. Năm 1915 ông được phong Tư vụ Bộ Lại. Từ năm 1916 đến 1942 ông giữ các chức Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Bố chánh, Tổng đốc của nhiều địa phận khác nhau. Hoàng thân Ưng úy từng tham gia Phái đoàn Kinh tế Cộng hòa Pháp sang đàm phán tại Tokyo năm 1940. Năm 1942 Bảo Đại cho ông giữ chức Thượng thư Bộ Công và là 1 trong 6 thành viên của Hội đồng Cơ Mật.

Dù xuất thân hoàng tộc nhưng Hoàng thân Ưng Úy có cảm tình với cách mạng và Việt Minh. Ông từ chối cộng tác với thực dân Pháp và chế độ bù nhìn Bảo Đại. Năm 1949 theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông ra vùng tự do, kêu gọi đoàn kết chống Pháp. Khi nhận được thư viết tay của Hồ Chủ Tịch, cụ Ưng Úy ngồi lặng một lúc rồi nói:

“Cụ Hồ thiệt nhơn đức. Ổng đã cứu thằng cháu ta thoát khỏi đoạn đầu đài, còn cho ngôi Cố vấn tối cao. Vậy mà… chừ nó lại ký cái hiệp ước Élysée, nhận mần vai quốc trưởng ô nhục như rứa… Từ lâu tui ưng ra với mặt trận mà chưa đặng. Lúc ni thuận dịp xin cho tui ra để trực tiếp đứng trong hàng ngũ, noi theo gương Cụ Hồ chống ngoại xâm”.

Vì đường từ Huế lên chiến khu Dương Hòa (thuộc Thừa Thiên – Huế) cực kỳ khó khăn nên cán bộ chiến sĩ Việt Minh phải thay nhau gánh võng đưa Hoàng thân Ưng Úy ra chiến khu. Đến nơi, cụ tuyên bố:

“Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong hoàng gia – nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một đôi phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ một phần uất trong lúc tuổi già”.

Từ Chiến khu Dương Hòa ông tiếp tục đi ra Liên khu IV (gồm Thanh-Nghệ-Tĩnh) và làm Trưởng ban Vận động Tòng quân của Liên khu IV. Nguyễn Phúc Ưng Úy mất năm 1970.

Nguyễn Phúc Bửu Hội sinh năm 1915 tại Huế. Ông là con của Hoàng thân Ưng Úy. Ông từng theo học ngành y tại Viện Đại học Đông Dương. Ông du học Pháp từ năm 1935 và quen biết với Ngô Đình Nhu từ đây. Tại Pháp ông trở thành tiến sĩ khoa học chuyên về hóa học hữu cơ và tổng hợp dược phẩm. Khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ, ông gia nhập quân đội Pháp một thời gian rồi trở lại Paris làm nghiên cứu. Ông cũng công bố nhiều công trình khoa học về ung thư và năng lượng hạt nhân.

Bửu Hội từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội năm 1947, nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Sau khi Pháp rút về nước, ông ủng hộ Ngô Đình Diệm thâu tóm quyền hành và tiêu diệt các lực lượng nổi loạn của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo… Năm 1960 ông được Ngô Đình Diệm cử làm cố vấn khoa học chính phủ và Giám đốc Viện Nguyên tử Đà Lạt. Ngoài ra ông cũng từng là đại sứ VNCH tại nhiều nơi.

Khi phong trào Phật giáo bùng nổ, mẹ của Bửu Hội là Sư bà Diệu Huệ (tên thật là Hồ Thị Huyên) cùng Sư bà Diệu Không (dì ruột của Bửu Hội) công khai chống Diệm và biểu tình tại Chùa Xá Lợi Sài Gòn. Từ đây 2 mẹ con đối đầu nhau. Bị giằng xé giữa gia đình và lí tưởng, Bửu Hội cố gắng làm trung gian đàm phán giữa chính phủ và Phật tử, nhưng không thành. Ngày 21/8/1963 ông Nhu ra lệnh Lực lượng Đặc biệt tấn công hàng loạt chùa chiền để tiêu diệt “mầm mống phản loạn”. Dù thất vọng nhưng Bửu Hội vẫn đồng ý đứng ra bảo vệ VNCH tại Liên Hợp Quốc. Vì hành động đó mà mẹ ông đau lòng và họp báo công khai từ mặt con trai mình. Sau đảo chính năm 1963, ông rời Việt Nam sang Pháp định cư rồi mất tại đó năm 1972.

Nguyễn Phúc Ưng Úy (ảnh trái) và Nguyễn Phúc Bửu Hội (ảnh phải)
Nguyễn Phúc Ưng Úy (ảnh trái) và Nguyễn Phúc Bửu Hội (ảnh phải)

==========================

* Thông tin về các nhân vật lịch sử trong bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn như Báo An Ninh Thế Giới, sách Nam Bộ – Những Nhân Vật Vang Bóng Một Thời của Nguyên Hùng, sách Hồi ký Tướng Tá Sài Gòn Xuất Bản Tại Hải Ngoại của Mai Nguyễn, Wikipedia, các bài phóng sự nhiều kỳ trên Báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên v.v…

Bao HG Tran