Hồi ức lính

Tiết ba ba

Đang lúc ác liệt nhất trên Bak Anlong Veng, tôi nhận được thư nhà, một lá thư loang lổ máu, đó là máu của các chiến sỹ quân bưu bị địch phục kích trên đường đưa thư từ cầu cháy về sư đoàn bộ. Thế mới biết tuyến trước cũng như tuyến sau đều không an toàn.
353
Tiết ba ba

Sáu tháng rồi không nhận được tin tức gì của gia đình, nay cầm lá thư trên tay lòng rưng rưng nhớ nhà. Được tin gia đình vẫn yên ổn, quân Trung Quốc đã rút về nước, gia đình bác tôi cũng thôi không phải sơ tán ở Hà Nội nữa, mà đã trở lại Lạng Sơn ổn định cuộc sống. Tiểu khu đã mấy lần đưa giấy gọi em trai tôi đi khám nghĩa vụ quân sự, mẹ tôi cương quyết không cho em tôi nhập ngũ vì lí do tôi đang chiến đấu tại chiến trường tây nam. Cuối thư thêm phần tái bút:

“Con còn sốt rét không? người ta bảo uống tiết ba ba sẽ khỏi sốt rét, con cắt tiết pha với rượu mà uống. Chúc con mọi chuyện an lành.

Mẹ của con”.

Ở bên này, tôi chỉ gặp rùa là nhiều không nhìn thấy ba ba, đi vào đến bìa rừng là gặp rùa, trên đường truy quét chúng tôi gặp rùa vô khối. Trước đây còn hay bắt về thịt nhưng vì thịt vừa dai vừa ít nên không còn là món khoái khẩu, hơn nữa nếu có bị sao, như lạc đường, gặp địch, nổ súng, thương vong là tụi lính bộ binh lại đổ thừa cho mấy thằng trinh sát ăn thịt rùa nên mới bị số nhọ. Từ đó, đi đầu khi nhìn thấy rùa bò trước mặt là tôi bốc lên, nhanh tay quăng thật xa tầm mắt của mấy thằng lính phía sau để tránh chuyện phiền phức.

Từ khi vào chiến trường đến nay đã được ba năm có dư, chưa lần nào tôi nhìn thấy con ba ba ở bên này. Hồi tôi còn ở nhà, ba ba bán rất rẻ, vì một lý do đơn giản là nhiều người không biết chế biến món này, nên bố tôi hay ra chợ Mơ mua một vài con về làm thịt. Món thịt ba ba om chuối đậu ngon đến nhức răng, cắn miếng riềm ba ba ròn như ốc nhồi, mùi nghệ, mẻ, tía tô cứ thấm mãi nơi đầu lưỡi, ngon tuyệt trần. Giờ thì tìm đâu ra ba ba để lấy một giọt tiết của nó.

Mãi đến một năm sau Chúng tôi lại được đi truy quét ở phía nam Anlung Veng, đợt này tổ chức theo đội hình trung đoàn, trung đoàn trưởng Nguyễn Trọng Thể trực tiếp chỉ huy chuyến đi truy quét, đội hình bao gồm gồm 1 đại đội của tiểu đoàn 7 và 2 đại đội của tiểu đoàn 8. chuyến truy quét này hòng chặn đứng con đường chuyển quân của địch từ nội địa lên biên giới lập căn cứ trên điểm cao 547

Khu vực phía nam An longveng này chúng tôi đã đi rất nhiều lần, những nơi có nước được trinh sát D8 đánh dấu rất chuẩn xác. Lần này ông Thể chọn vị trí nghỉ chân đúng nơi chúng tôi thịt con trăn cách đây vài tháng. D7 đóng quân đầu nguồn, D8 cuối nguồn con suối, chỉ huy trung đoàn nằm giữa. 

Sáng hôm sau, sau khi dẫn đội hình đi tuần quanh khu vực, tôi trở về nơi trú quân, đã thấy mấy lính vận tải tát gần xong khúc suối, cá đã quẫy rạch đầy vũng cạn, tôi tháo quần áo lao xuống hỗ trợ, chọn những con to quăng mạnh lên bờ, thằng Cường nhanh tay gom cá, lấy dây rừng sâu từng chỗi dài, toàn cá quả.

Cường là lính bộ binh C7, tương đối đẹp trai, người Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Nó ăn mặc rất chỉnh chu, cái áo lính đã bạc trắng mà nó cố giặt cho thật trắng hơn, nó bảo nó thích áo màu trắng, mà đúng thật, khi khoác tấm áo lính bạc trắng vào người nhìn có vẻ rất phong trần, rất từng trải. Mỗi lần vồ được con cá to nó lại cười, tiếng cười ròn tan trong sáng giữa đại ngàn mênh mông.

Tôi mải mê bắt cá, đột nhiên nhìn thấy có vật gì tròn tròn thò lên thụt xuống trong đám lá mục dưới bùn, giữa vật tròn là hai lỗ nhỏ cứ nhô lên thụt xuống, tôi lùa hai tay định chộp cái vật tròn tròn đó thì đột nhiên vũng bùn từ từ dâng lên,chuyển động… thì ra là một con ba ba khổng lồ, cái vật tròn tròn đó chính là cái mũi con ba ba. Tôi lùa tay bê bổng cả thân hình nó lên, cả đám lính tròn xoe mắt, há hốc miệng, thằng Cường reo lên khe khẽ: “Chu cha! con ba ba to dữ quá trời, tui chưa bao giờ thấy con nào to như vậy luôn.

Con ba ba này to thật, tôi đo độ rộng của nó được hai gang tay, có nghĩa là đo từ riềm mai bên này sang bên kia phải 40 cm. Tôi mừng rơn vì một năm trời tìm kiếm khắp vùng Preah Vihia, nay mới có dịp bắt được một con ba ba để lấy tiết chữa bệnh sốt rét. Tôi nói với Cường: 

– Mẹ tôi nói,uống tiết ba ba chữa khỏi bệnh sốt rét, mãi đến giờ tôi mới bắt được nó.      

– Vậy hả? cho tui uống với nhé! tiếc quá giờ lại phải đi phục, chiều về đồng hương phải dành cho tôi một ít nhé.

– Nhưng đến chiều tiết hỏng mất, giữa rừng lấy đâu ra rượu để hãm, thôi chiều về ăn thịt ba ba ngon lắm đấy.

– Ừ nhỉ! nhớ để dành một bát to nhé!

Chúng tôi xách cá về cùng hỗ trợ anh nuôi làm cá, đánh vảy cá quả thật dễ dàng, tôi thường lấy cái vỏ trai cạo ngược con cá, vẩy bay rào rào một loáng là sạch trơn, thò ngón tay bóc mang rút ngược dạ dày, sẻ ngang bụng móc ruột rửa sạch một loáng là xong. Thằng Tài anh nuôi D bộ cắt tiết ba ba, tôi lấy ca Bi đông hứng tiết uống ngay tại chỗ, các lính nhăn mặt. mặc kệ, là thuốc quý sao phải bỏ phí, mấy tay vận tải cũng uống thử nhưng mặt vẫn nhăn nhăn: “Tanh quá, tanh kinh khủng.

Một loáng Tài đã pha xong nồi thịt, nhổ giềng rừng giã nhỏ, cắt lá giềng lót nồi, bột nghệ có sẵn trong ba lô, bóp muối, thả bột canh, cho thêm hạt tiêu xanh, đặt nồi lên bếp chẳng mấy chốc nồi thịt Ba ba sôi Xình xịch mùi thơm ngào ngạt tỏa khắp cánh rừng, may cho hướng chúng tôi nhìn ra bãi trống và tổ chức canh gác rất chu đáo. 

Một lúc sau phía ổ phục kích của ta ầm ầm tiếng súng. Chúng tôi mừng rơn vì nhất định có thắng lợi, khi đã phục kích với đội hình lớn mà nổ súng thì lính ta nắm chắc phần thắng, Tài gọi mọi người ra nhận cơm, thịt ba ba ngon thật, khá khen cho tay nghề nấu nướng của anh nuôi, thịt ngon vừa tới, riềm ba ba dày ròn, tôi cầm ca bi đông nhờ anh nuôi múc thêm một ít để phần cho Cường.

Một lát sau lính phục kích trở về, vai vác chiến lợi phẩm, súng ống, ba lô, có cả Xoong nồi. Nhưng nét mặt ai cũng buồn thiu, một cánh võng đầy máu được hai bộ binh khiêng vào chỗ chỉ huy tiểu đoàn, đó là thi hài của Cường. Chúng tôi buộc võng Cường vào vòng trong, gần ngay chỗ tôi mắc võng. 

Nghe lính C7 kể: “Khi chúng tôi gặp địch liền bấm mìn định hướng, đồng loạt nổ súng, chúng chết vài thằng, Cường bắn M79 không kịp thao tác nên một tên chạy qua mặt Cường. Một loạt Ak bắn thẳng vào ngực. Cường hi sinh không kịp trăn trối”

Buồn quá, ca thịt ba ba để phần cho Cường nguội ngắt. Tôi đem ca thịt trả lại cho anh nuôi. Bữa cơm chiều mọi người lẳng lặng nhai, không ai nói với ai nửa lời. Không dám nhìn vào cánh võng bất hạnh của Cường.. lòng nặng trĩu nỗi buồn.

Nguyễn Tuấn

Hồi ức lính

Anh nuôi Sơn Lọ

Sơn Lọ lính Phú Khánh ở Đại đội 5 nhập ngũ năm 1978 nhưng sinh ra ở ngoại ô thành phố Hà Nội, vì tóc xoăn rối bời, da đen bẩn bẩn lại thích nấu nướng nên lính C5 đặt ngay cho cái tên là Sơn Lọ.
302
Anh nuôi Sơn Lọ

Cũng có thể hắn hay lọ mọ cưa pháo, tháo đạn để đánh cá nên được đặt cái tên này. Sơn lọ ngang tàng nhưng tốt bụng, chỉ cần vài thằng đồng hương Phú Khánh hay Hà Nội từ đơn vị khác qua C5 chơi là bày đặt tiệc rượu ngay. Trong hầm thùng của hắn chồng chất xương khỉ gạc nai, mai rùa bốc mùi khắm khú.. hắn gom góp lại để nấu cao ngâm rượu đãi khách quý. Rượu tự nấu gà tự nuôi nên cuộc sống rất đề huề. Vì C5 gần tiểu đoàn bộ nên có món gì ngon đều gọi chúng tôi qua đánh chén.

Khi đơn vị rút về con suối phum Giềng, Sơn Lọ phát huy được vai trò cải thiện, mùa khô thì săn thú, mùa mưa lập đăng bắt cá. Suối phum Giềng vào mùa mưa, nước ngập tràn bờ, nước nhiều thì cá cũng nhiều. Nhưng suối chảy siết. Hà Săng, Biển Đen và Sơn Bông thích đi câu nhưng số lượng không nhiều lắm, chỉ đủ dùng trong A.

Sơn Lọ nghĩ ra sáng kiến làm đăng rủ thêm Thanh Chè,Toán Con, Tư Rô chặt cây đóng cọc, chẻ tre thưng phên chặn đăng ngang cửa tụ thủy ( tụ thủy là những nhánh nước chảy vào suối ) khi mưa xuống nước suối dềnh lên ngập lút đăng, cá lớn cá bé thỏa sức tung tăng vượt đăng du ngoạn khắp nơi, nước rút, cá lại theo dòng trở về suối bị mắc lại trong đăng nhiều vô kể. Cá suối mùa mưa, toàn cá leo, cá bò béo mẫm, chỉ cần lấy thùng B40 hoặc buộc võng khiêng về. Tha hồ đánh chén lại còn thừa chia phần cho các đơn vị khác.

Một hôm, nghe tiếng lợn kêu thảm thiết, Sơn rủ Toán Con ra kiểm tra, thoạt đầu tưởng lợn mắc bẫy của dân, ai dè đâu một đàn chó sói khoảng hai chục con tấn công một con lợn, nói là sói nhưng chúng nhỏ bằng chó nhà tai to dựng đứng, Sơn dùng khúc gậy lao thẳng tới đàn sói phang tới tấp, đàn sói bị bất ngờ bỏ chạy, để lại con lợn đã mất hết nội tạng. Sơn Lọ cùng Toán khiêng về. Đơn vị được bữa chén túy lúy, hắn cứ tiếc mãi vì không được làm món lòng lợn tiết canh. 

Mùa khô suối phum Giềng nước lững lờ trôi, đủ điều kiện để lính đánh cá, Sơn Lọ đứng vào hàng đầu của những thằng đánh cá nổi tiếng của tiểu đoàn. May mà chưa bị cán bộ bắt lần nào, là loại điếc không sợ bộc phá nên cũng đôi ba lần chết hụt. Hắn cầm lựu đạn, rút chốt bật thìa nắm trên tay chờ đến thời điểm sát nút mới thả, quá liều lĩnh. Tôi chứng kiến một hôm đi với hắn, trời nắng trang trang hắn cầm que than châm đầu ngòi dây cháy chậm, rõ ràng tôi nhìn thấy khói và mùi thuốc, hắn khăng khăng nói chưa bén lửa. Tất cả ba bốn người hô lớn: 

– Ném ngay. 

Nó cuống lên quăng vội xuống nước. Một tiếng nổ đinh tai nhức óc trên mặt nước, may chỉ là thuốc nổ bộc phá nếu là mìn thì thành mồi tươi cho cá rồi.

Lính cũ chúng tôi rồi cũng phải chia tay đơn vị, năm 1983 tôi ra quân… Vì ngang tàng bướng bỉnh, nên Sơn Lọ, Toán Con ra quân cuối cùng. 

Năm năm sau, Sơn lọ ra thủ đô thăm đồng đội, gặp nhau mừng mừng tủi tủi, thấy đồng đội còn đen đúa hơn cả hồi còn ở đơn vị, tôi nhào tới ôm chầm lấy, rồi cảm động bắt tay, cảm giác bàn tay lợm cợm, thấy mất hai ngón, tôi ngạc nhiên hỏi:

– Làm sao mày mất ngón tay. Tự thương à?

– không! Ra quân tao vẫn nguyên vẹn, về nhà tao cưa đạn nó liếm của tao hai ngón tay phải, hai ngón chân, mảnh còn găm tứ tung quanh người.

– Vậy về nhà lại cưa bom mìn à? 

– Ở địa phương tao còn nhiều bom đạn của Mỹ, tao thỉnh thoảng thu gom mảnh đem bán, còn quả đạn nào lành lặn cưa ra lấy thuốc nổ để đánh cá. Từ khi bị tai nạn tao lên núi đốt than cũng sống nhì nhằng đủ tiền nuôi vợ con. 

– Trời ạ! Anh hùng lên núi đốt than. Tên là Sơn Lọ, mày vẫn là thằng kiếp nhọ như đít nồi.

Chúng tôi gọi nhau tụ tập liên hoan rồi gom một ít tiền tổng cộng đủ mua một chiếc Hon Da cũ tặng bạn, để bạn về quê hương còn có phương tiện chở hàng. Lính Hà Nội chúng tôi mới về còn nghèo lắm nhưng cố tỏ ra hào phóng với đồng đội, cũng thương thằng bạn sống chết với mình ở chiến trường về quê hương còn khổ cực hơn mình.

Mùa hè năm sau lại thấy Sơn Lọ ngồi lù lù trong nhà Vinh Nam Đồng, nước da vẫn đen đen sậm sì, cửi trần trùng trục ngồi say sưa xem vô tuyến. Lần này lại bị chột một con mắt. Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Sao mất một con mắt vậy? Lại cưa đạn à? Đã có tiền mua xe thì đi chở hàng cũng đủ sống mà.

– Đâu có đồng hương, mình chặt mía thuê, không ngờ dằm mía bắn vào mắt đục thủng con ngươi. Nằm dài ở nhà đói quá, đành bán cái Hon Da lấy tiền chữa chạy, sống qua ngày.

– Mẹ kiếp! Bao năm chiến trường bon mìn không làm rách nổi một tí thịt của mày, mà về nhà sao mày khổ thế Sơn ơi!

Nguyễn Tuấn

Hồi ức lính

Gọi gà kiểu Campuchia

R..Rú.ú ú mọ ọ ọ!.... Tiếng gọi gà của dân Campuchia đó. Nghe nó cứ hay hay, đểu đểu, buồn cười. Nhưng phải nghe trực tiếp người phụ nữ Campuchia gọi mới thấy nó hay hay, đểu đểu, buồn cười.
327
Gọi gà kiểu Campuchia

Chúng tôi cũng nuôi gà và cũng gọi gà: “Rú mọ”. Ấy là vì thấy nó hay hay, đểu đểu, buồn cười và cũng sợ gà Miên “không biết” tiếng Việt nên cứ rú mọ mà gọi, gà về đầy sân. Ở bên Miên có nhiều loại gà. Tôi thích nhất thịt con gà lông cứ vểnh hết lên, nom rất lạ. Tôi gọi đó là con gà xước xước.

Gà Miên chỉ ăn thóc gạo và các loại côn trùng, giun dế ở bờ bụi nên thịt ngon lắm. Thịt gà luộc trắng phau, xé chấm muối ớt, chanh ngon chảy nước miếng. Thịt gà dai, giòn, ngọt, ăn với cơm gạo Miên trắng ngần, ngon khó cưỡng. Gạo trồng một năm, một vụ. Ăn bữa nào, mới giã bữa đó. Gạo nhỏ hạt, cơm săn, thơm, ngòn ngọt, đậm đà. Thóc được giã trong chiếc cối bằng gỗ, chày giã là chiếc đòn cây dài hơn đầu người. Chính vì phải giã gạo mà các cô gái Miên có eo thon thả lắm.

Khi mới sang CPC, cuối năm 1978, chúng tôi đổi đủ các thứ quần áo, quân trang, quân dụng, nhu yếu phẩm kể cả đạn để lấy gà và phải thịt trộm, ăn ngay vì sợ 9 điều quy định. Lộ ra bị tử hình ngay. Nhẹ cũng bị kỷ luật tước quân tịch. Sau này Miên phát hành đồng tiền Riêl,  bộ đôi cũng được lĩnh tiền. Mua bán sòng phẳng. Bộ đội mua gà nuôi đầy sân. Tiếng gọi gà rú mọ, vang khắp đơn vị.

Tháng 5, năm 1981 tôi đi truy quét ở AnLungVeng. Vào D8 dừng chân, chỉ sợ cối địch bắn vào. Địch bắn rất trúng doanh trại ta. Hôm đó tôi trực chiến mà cứ nơm nớp lo đạn rơi trúng đầu. Sau D8 biết địch bắn chính xác là do tiếng gà gáy vang to, địch chỉnh cối pháo vào tiếng gà. Thật nguy hiểm.

Chỉ huy D8 lệnh cấm nuôi gà. Nhưng lính vẫn có cách. Nuôi toàn gà mái, gà trống chưa biết gáy là thịt. Hôm đó tôi sang C5 tìm gặp đồng hươn Huỳnh gà. Hai thằng gặp nhau, mừng ứa nước mắt. Cảm động vô cùng, mừng tủi nghẹn lòng. Huỳnh gà chỉ có 3 con gà con. Nó thịt tất để đãi tôi. Bữa cơm thấm đượm tình đồng hương, đồng đội. Tôi còn nhớ mai hơn 40 năm rồi. 

Ở C1, người nuôi gà giỏi nhất là anh Nguyễn Hà Ba( Ba điếm). Anh là lính 73, người Hà Tây. Đàn gà của anh lúc nào cũng nhiều nhất đơn vị. Đặc biệt, trong đàn gà của anh có một con gà trống to gọi là “gà cồ”. Con gà mình tròn, da đỏ, cổ không lông, đuôi cũng không có. Chân to, cựa nhọn cứng. Nó làm soái ca tất cả gà trong đơn vị.

Chúng tôi nuôi gà đẻ. Ấp nở gà con đều giống bố gà cồ. Nom thích mắt lắm. Những chú gà con như cục bông xúm quanh gà mẹ. Tôi vác dao quắm ra bìa rừng, tìm tổ mối đem về chặt ra, rồi rũ xuống. Những trứng và mối con rơi ra, gà con, gà mẹ tha hồ mà ăn. Nhìn đàn gà, tiếng gà gợi nhớ quê hương Việt Nam lắm. Con gà Cồ làm bá chủ gà đơn vị, nó đánh bại tất các gà trống khác. Bọn thằng Cảm ( quản lý), thằng Tâm y tá, thằng Nhất, thằng Anh, anh nuôi tức lắm.

Thằng Cảm vào phum ChomsRe mua một con gà trống to khỏe, đẹp lắm về để chọi gà cồ. Chúng tôi được bữa xem chọi gà đã mắt. Gà thằng Cảm lợi thế là đuôi dài, cánh to. Sau một hồi đá, mổ, khóa cánh, khóa cổ cả 2 con te tua, máu đầy cổ. Tiếng hò reo, bình luận ầm ĩ của lính vui cười khoái chí, chả mấy khi được vui như thế. Thế rồi, bằng một cú đá hiểm hóc của gà cồ, gà thằng Cảm chúi đầu bỏ chạy.

Tối hôm ấy, thằng Cảm hô to: “cháo ăn chung, gà ăn riêng đê”. Nó bắc một nồi cháo to, ai hưởng ứng thì thịt gà, đánh dấu, cho chung vào nồi cháo. Khi chín, gà của ai người ấy ăn. Cháo thì ăn chung, ai cũng được ăn. Hàng tỉ thứ chuyện được kể ra ở buổi cháo gà. Đó là “cháo ăn chung, gà ăn riêng” câu “khẩu hiệu” của thằng Cảm hay vang lên mỗi chiều tối. Con gà cồ thắng trận đó càng ông kễnh hơn. Nó gáy vang đại đội, mặc sức cai quản đàn gà mái.

Lũ gà rừng nghe tiếng gà nhà thì mon men đến rìa đơn vị. Chúng cất tiếng gáy te te dưới chân đồi. Gà cồ tức tiếng gáy ấy lắm. Nó mò xuống đồi tìm gà rừng để chọi. Gà cồ to khỏe, lì đòn, kiêu hùng. Gà rừng nhỏ thó nhưng mỏ nhọn, cựa sắc. Mỏ đen sì, cựa đen sì, con mắt tinh ranh. Gà rừng với những miểng đánh giang hồ, hoang dã. Nó vừa bay vừa đá, vừa lanh lẹ lại cộng với mỏ và cựa cứng sắc kinh khủng, kết quả gà cồ ôm đầu máu lết về cùng một con mắt bị lòi ra ngoài.

Anh Ba tiếc lắm. Anh nheo nheo con mắt nói: “con này già rồi, phải ninh bằng đậu đen cho nhừ”. Tối hôm ấy, tôi được ăn cháo gà cồ, cũng không thấy dai lắm, vì răng hồi ấy tốt, lại ninh gà hơi lâu.

Tôi nuôi được hơn chục con gà. Chuồng làm bằng cây rừng chắc chắn để tránh bọn chồn, cáo mò vào bắt gà. Cuối năm 1982, tôi nhận được “Chát” đi học sỹ quan lục quân 3. Tôi vào phum mua rượu, thốt nốt để chia tay đồng đội. Tôi ra tiểu đoàn bộ và các đại đội mời các đồng hương Hà Nội đến C1 để liên hoan. Tôi thịt sạch đàn gà. Lòng mề xào với đậu đũa trồng được. Thịt gà xé phay, chấm muối chanh ớt. Chúng tôi say túy lúy. Thằng Hóa say quá còn đạp tung cả vách nhà tôi được đan bằng nan tre. Mặc kệ. Hôm sau tôi khoác ba lô một nửa  chứa thư của đồng đội lên trung đoàn đi học sỹ quan.

Một mình đi qua phum Chom sRe, đến cuối phum có một cây gỗ bắc qua dòng suối nhỏ. Đang bước trên cây gỗ bỗng nghe tiếng r.rú…mọ. của người dân gọi gà vang ra. Tôi giật mình trượt chân ngã xuống suối, cằm va vào cây gỗ dớm máu thành vết sẹo ở cằm. Tôi đứng dậy, mỉm cười và vẫn thấy tiếng gọi gà hay hay, đểu đểu, buồn cười của người dân Campuchia. Đó cũng là tiếng gọi gà cuối cùng tôi được nghe trên mảnh đất đầy gian khổ ác liệt cách đây trên bốn chuc năm.

Lê minh Thư D7 E29 F307

Hồi ức lính

Trăn đất vùng Anlong Veng

Phía nam Anlong Veng hầu hết là rừng xanh, là nơi tiếp giáp của 2 khu chiến của bộ đội Việt Nam đó là quân khu 5 và quân khu 7, một khu rừng xanh trải rộng gẫn 100 km vuông nên cả hai quân khu không thể kiểm soát hết nơi này.
323
Trăn đất vùng Anlong Veng

Hơn nữa khu vực Anlong Veng này mùa mưa ngập lút đến tận bụng, đến khi mùa khô thì không tìm đâu ra một giọt nước, nếu có nước thì tập trung rất nhiều thú dữ hoặc cũng là nơi địch hay trú quân, chúng tôi đã nhiều lần bị khát nước, những trận khát nước khủng khiếp, đi mất ba ngày mới tìm thấy nước.

Có lần phát hiện ra một đầm lầy thì.. than ôi hàng trăm con lợn rừng đằm mình trong hồ nước chúng tạo cho hồ nước thành một lớp bùn đặc sánh, khi thấy người chúng chạy tán loạn, húc thẳng vào giữa đoàn quân sặc mùi phân trộn bùn may mắn không ai bị thương vong, chúng tôi lấy khăn mặt thấm qua lớp bùn rồi vắt nước vào ca, chờ cho lắng cặn rồi uống, nước vẫn đen đục và hôi tanh… đành phải uống vì không còn lựa chọn.

Khi đã phát hiện ra khúc suối, hoặc khu hồ nào có nước là chúng tôi đánh dấu rất kỹ trên bản đồ, đề phòng cho đợt sau có qua đây còn có nước để dùng, 

Hôm ấy Tiểu đoàn phó Nguyễn Mạnh Hùng trực tiếp chỉ huy đợt truy quét phía nam Anlong Veng. Gồm 2 đại đội là C6 và C5 tăng cường thêm 1 khẩu đội Cối 82 của C8. Đợt này đi khá đông nên được tăng cường thêm 3 trinh sát. Gồm có tôi, Khoa và Liêm Quế Sơn . 

Tôi dẫn đầu đội hình đi qua một bãi cỏ tranh và những bụi cây sim thưa thớt, phía dưới đã nhìn thấy con suối ôm vòng theo vạt rừng xanh. Vì dốc cao nên tôi phải tìm một khe tụ thủy nhỏ để tụt xuống lòng suối, ngay bờ tụ thủy có một cây đổ nằm chắn ngang lối đi, tôi vạch lá bước qua không cần để ý gần.

Vừa tụt xuống vừa quan sát về phía rừng xanh bên kia suối xem có động tĩnh gì không. Bỗng nhiên thấy đằng sau có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, thằng Thời bộ binh C5 từ trên bờ lăn mấy vòng xuống suối, tiếp đến là anh Lầm anh nuôi C8 chạy nhanh nhất ngã ngửa ngay dưới chân tôi, xoong nồi lăn lốc cốc xuống suối.

Các lính bộ binh gần tôi đang ngơ ngác, thì bỗng tôi nhìn thấy một con trăn lớn, nó cất cái đầu to bằng quả dừa trước mặt tôi, rồi lao thẳng xuống suối cả thân hình dài thượt của nó tì lên vai tôi nặng trĩu, lúc này chỉ còn nhắm mắt cho toàn bộ cơ thể lạnh ngắt của nó trườn qua vai tôi rồi lao nhanh xuống vũng nước dưới lòng suối. Chúng tôi bị một phen bất ngờ chỉ còn biết ngây người nhìn xuống vũng nước không lớn hơn hai manh chiếu, nơi con trăn đang nằm dưới đó.

Anh Hùng phân công bố trí cho các đơn vị hạ trại ngay tại chỗ, các đơn vị tổ chức canh gác và tuần phục hai bên bờ, lúc này anh Lầm mới kể rõ đầu đuôi: “Tao thấy nó như cây gỗ nằm ngang, liền ngồi lên nghỉ giải lao, dưới đít êm êm, rồi khúc cây tự nhiên chuyển động, nhìn kỹ hóa ra đang ngồi trên lưng con trăn eo ơi ! kinh quá tao bỏ chạy, xô ngã cả thằng Thời.

Chúng tôi chuẩn bị tìm cách bắt con trăn, mỗi người cầm một cây gậy, nó thò đầu lên là đập. Khổ thân con trăn, chưa kịp ngoi lên mặt nước đã bị phang vài gậy, thân hình nó trườn lên khúc cây. Tôi bật lưỡi lê ba cạnh gim người nó vào khúc cây để cho mọi người ra sức đập. Không ngờ sức mạnh của con trăn khủng khiếp thật, nó kéo cong oằn cái lưỡi lê AK47 bằng thép ngoẹo sang một phía. Lính tráng dùng vồ gậy tới tấp đập lên đầu con trăn, một tiếng sau con mãnh xà cũng phải gục ngã trước sức mạnh can trường của mấy thằng lính háu đói.

Chúng tôi kéo cổ lên bờ, nhìn cái đầu nhỏ như quả dừa mà sao thân hình nó to khủng khiếp vậy, phải 6 lính bộ binh mới kéo được lên chạc ba của một cái cây bên suối để lột da. Cả con trăn quý nhất cái mật nên ai cũng nhăm nhắm cướp bằng được, khi lột da mổ bụng, tất cả nháo nhào lao tới, thằng giằng buồng gan, thằng cướp búi mỡ, cuối cùng không biết túi mật thuộc về ai. Trinh Sát chúng tôi được nửa dây mỡ trăn, đem về đun lên đựơc gần đầy bi đông mỡ.

Anh nuôi chặt khúc luộc trăn ăn bữa chiều, thịt trăn luộc trắng như thịt gà, chấm muối tanh nghéo nhưng cố mà ăn. Tôi không thấy ngon, thịt lại bám xương dùng răng giằng mãi không róc thịt. Khi ăn xong thằng Dũng liên lạc đi xuống từng bộ phận gom lại tất cả những mầu xương trăn để thủ trưởng Hùng mang về nấu cao.

Xem thêm: Những món ăn kinh khủng vùng Anlong Veng

Suốt cả một tuần, thằng Dũng phải mang theo túi xương trăn cho thủ trưởng, trên đường hành quân lính bộ binh không chịu nổi, đuổi nó xuống cuối đội hình. Dũng nó phàn nàn: “Em muốn quăng mẹ nó đi, không thể chịu nổi như mùi tử sỹ, nhưng chỉ sợ thủ trưởng giận.

Khi về tiểu đoàn bộ tôi còn nhớ.. cái đầu con trăn, ông Hùng treo tòng teng mãi bên hiên nhà chỉ huy tiểu đoàn bộ, như chứng minh cho một chiến công của đơn vị trong đợt truy quét phía nam Anlong Veng.

Nguyễn Tuấn

Hồi ức lính

Những món ăn kinh khủng vùng Anlong Veng

Lính rất dễ tính, lính vô tư như đã từng làm lính, lính có gì ăn nấy, không hề phàn nàn, ăn được thì cố mà ăn, ăn bất kể thứ gì, cả những món ăn kinh khủng.
342
Những món ăn kinh khủng vùng Anlong Veng

Nhớ thời gian đơn vị D8 chúng tôi đóng quân trên Bak Anlong Veng, chỉ có gạo mục, cá chuồn khô đầy giòi, gạt giòi ra vẫn ăn được như thường, Khoa tiểu đội phó trinh sát còn nói tếu: 

– Gạt giòi ra làm gì, mất công lắm. Cứ cắn cả miếng, nghe tiếng giòi nổ lách tách trong miệng lại thấy vui tai. Ăn đi không phí.

Khoa nói thêm:

– Trên đời này tao không từ chối ăn một con gì, chỉ có mỗi con Ốc là tao chịu.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Ốc ngon quá, sao lại không ăn?.

– Ốc Vít tụi bay có ăn nổi không?

Tất cả lại cười rộ lên, lại gắp rồi đĩa cá cũng bay sạch.

Hồi còn đóng quân ở Choăm Sere, tiểu đội chúng tôi đi thực địa rẽ vào một căn nhà rìa phum, lấy tấm mền đổi được hai con gà to, luộc ngay tại nhà dân. Hai con gà béo ngậy bắc ra, sẵn có bi đông rượu nâng lên đặt xuống, gà chấm bột canh, ngọt lịm. Lính vui tay xé chấm tưng bừng.

Chưa hết nửa con gà đã hết gói bột canh, Khoa hỏi xin muối nhưng bà chủ lắc đầu, đi vào gác bếp lấy ra một bọc Para hok. Bình thường thì đến chết chúng tôi cũng không thể ăn nổi món này. Mở gói bò hóc ra là bịt mũi muốn ói, món bò hốc là món cá để ươn ba nắng. Con cá hoại tử mềm nhũn, thối hoắc. Lúc đó họ cho vào cối rã nát trộn muối, giềng ớt bọc lá chuối treo gác bếp ăn dần. Vậy mà giờ đây thịt gà chấm bò hốc hòa loãng ăn vẫn thấy ngon. Chẳng thấy anh nào nôn ọe.

Lại một buổi chiều, Hồng kều và Thanh Phun Rô đi tuần về, rẽ vào phum mang về một bọc phổi trâu, khoe rằng dân biếu không. Cả tiểu đội mừng rơn, rửa sạch thái nhỏ cho vào nồi xào xào nấu nấu. Nồi thịt thơm phức bắc lên bàn cả tiểu đội tới tấp gắp. Cho vào miệng nhai lạo xạo toàn cát. Thì ra mùa khô trâu nhai cỏ lùa cả bụi cát vào túi phổi. Không vấn đề vừa ăn vừa nhè cát. Thịt phổi trâu vẫn ních đầy bụng lính.

Có một lần truy quét xuống cánh đồng Bo samui, lâu ngày không có chất tươi, gặp một đàn kền kền cổ cong cùng tranh nhau một cây khô tại một hồ sen cạn. Chúng đánh nhau, chiếm vị trí trên cành, làm cho các cành cây gãy răng rắc. Chúng chẳng coi đám lính là gì. Mặc dù chúng tôi nghỉ giải lao rất gần đó. Khoa nâng súng lên, chọn con to nhất bóp cò. Con kền kền nặng hơn 10 kg như cánh diều đứt dây từ từ tiếp địa xuống hồ sen cạn.

Tôi lao theo con quái điểu hòng bắt sống, nhưng đến khi đối mặt thì thật kinh hãi. Nhìn cái đầu trọc lốc, cặp mắt trắng dã, với cái mỏ khoằm đang vươn ra đe dọa, khiến tôi không dám tiến gần. Nếu nó mổ trúng đích cũng không khác gì con dao nhọn chứa đầy độc tố. Tôi lùi lại kiếm một khúc cây lừa thế phang một cú trời giáng vào cái đầu gớm ghiếc của con kền kền. Lôi cổ lên bờ cho anh nuôi làm thịt.

Đúng là loài ăn xác thối, anh nuôi Sơn Lọ vặt lông, từng đàn rận bò ra nhung nhúc, làn da mốc thếch khô khốc nhăn nhúm. Sơn rửa sạch sẽ chặt khúc quân cờ ướp muối, bóp giềng cho vào nồi, châm lửa làm bữa trưa. Chỉ một loáng bữa cỗ bắc lên, cơm trắng, thịt kho, còn có cả canh lá giang nấu với cổ cánh kền kền.

Khá khen tay anh nuôi người Phú Yên, hắn làm các món ăn rất khéo, thịt thơm nức mũi. Tôi gắp một miếng nạc cho vào miệng nhai ngấu nghiến, mùi thịt khét lẹt, hăng hắc mùi xà phòng. Không thể nhai thêm tôi nhè miếng thịt, buông bát cơm, lấy bi đông xúc miệng, nhìn qua đám lính bộ binh vẫn chén tì tì, Khoa nói thầm với tôi: “Món này kinh khủng quá, không thể ăn nổi“.

Khi ăn xong, thằng Sơn Lọ đổ hết nồi thịt. Vừa cọ nồi vừa lẩm bẩm: “Mẹ kiếp! Thịt gì mà khó ăn vậy. Phí toi cả buổi nấu nướng, rửa mãi không hết mùi“.

Xem thêm: Trăn đất vùng Anlong Veng

Nguyễn Tuấn

Hồi ức lính

Thịt kỳ đà

Vùng Campuchia là nơi rất nhiều cá, đồng thời cũng là nơi sinh ra rất nhiều kỳ đà, hầu như trận truy quét nào chúng tôi cũng gặp kỳ đà, chúng sống dọc theo suối từ đầu nguồn đến cửa sông.
144
Thịt kỳ đà

Nhìn làn da sần sùi, hoa văn loang lổ, dáng vóc gớm giếc, cặp mắt lấc láo, thi thoảng lại lè cái lưỡi chẻ đôi như lưỡi rắn, nhiều lính thấy ghê không dám sờ vào chúng.

Lần đầu tiên chúng tôi tổ chức tát cá trong một khúc suối gần phum kamparạ. Khi chưa cạn hẳn đã thấy cá quẫy nhiều vô kể, chúng tôi đã lao xuống bắt. Thằng Căn lính C5 bắt cá rất giỏi, Căn là một thanh niên ngoại ô Hà Nội, vốn là dân chài lưới dọc sông Nhuệ nên chuyện bắt cá khi có nước cũng không khó gì.

Đang mò trong một hốc cây bỗng nó rú lên, nhảy chồm lên bờ, mặt cắt không giọt máu, ú ớ chỉ vào bọng cây mấp mé mặt nước: “Con gì to lắm, có móng vuốt, da sần sùi.

Chúng tôi đoán già đoán non, có thể là cá sấu. Tất cả hò nhau ra sức tát cạn, mong bắt bằng được con vật lạ đang nằm dưới vũng nước kia. Khi nước gần cạn để ăn chắc mỗi thằng chuẩn bi một cái gậy, đề phòng nếu phải cá sấu thì phang thẳng cánh. Anh Tặm Bộ binh C5 người Hòa Bình nhìn cái đuôi ngúng nguẩy trong bọng cây anh reo to: “Con kỳ đà hoa, con này vẫn còn nhỏ lắm!”

Anh thò tay vào hốc cây lôi cổ nó ra, một con vật không khác cá sấu là bao, có điều không có răng như cá sấu, cái lưỡi chẻ đôi đen ngòm thò ra thụt vào, làn da sần sùi như vỏ cây, nặng khoảng 3 cân. Không bõ ăn nên để cho anh Tặm mang về đơn vị nuôi dưỡng, đó là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy con kỳ đà. 

Lại một hôm vào mùa khô, chúng tôi đi truy quét phía nam Anlong veng, trời nắng như đổ lửa chúng tôi bước vào rừng xanh gặp một con suối nhỏ, nước trong vắt, dưới đáy toàn sỏi nhỏ. Hai bên bờ suối là một rừng mây gai đan kín thành vòm không thể vượt nổi nên cả tiểu đoàn cứ lội dọc theo dòng suối.

Đi dưới vòm mây đan kín thật là đẹp, nước dưới chân mát rượi trong vắt. Tôi đi đầu đoàn quân thả mắt quan sát hai bên bờ, rừng cây tĩnh mịch không có dấu hiệu của địch. Bỗng phía dưới đoàn quân có tiếng động nước và tiếng nói cười xôn xao, tôi quay lại nhắc mọi người bí mật, nhưng tiếng nói càng lớn hơn có vẻ rất vui.

Tôi vội kéo quân đi nhanh hơn thoát khỏi khúc suối, tôi vượt lên bờ suối, tìm vị trí cao nhất để nghỉ giải lao. Một lúc sau tất cả mọi người cũng tập trung đông đủ, nhìn thấy hai lính C6 khiêng một con kỳ đà khá to hai tay bị trói quặt ra đằng sau, mồm cũng bị buộc chặt bằng dây võng. Con này to khủng khiếp phải được 20 kg nó dài 1m rưỡi, hoa văn loang lổ.

Ông Vẳng chính trị viên phó tiểu đoàn cho quân hạ trại nghỉ giải lao nấu nướng, làm thịt kỳ đà. Lính chỉ biết lột da, chặt khúc kho mặn. Thịt kỳ đà trắng như thịt gà, mỗi người vài miếng, chủ yếu lấy nước trộn cơm mới đủ bữa. Tôi chưa cảm nhận hết được cái ngon của thịt kỳ đà. Người ta bảo thịt kỳ đà ăn rất bổ, các bộ phận đều là những vị thuốc quý. Mật kỳ đà chữa hen cho trẻ con, da phơi khô chữa bệnh mề đay. Cái đuôi là phần bổ dương nhất dành cho những đấng mày râu tăng cường sinh lực. 

Có một lần vào mùa mưa, tôi dẫn bộ binh C5 lên truy quét khu vực 547, xa xa nơi dông 600 đông. Nơi vách đá dựng đứng của dãy núi có một ngọn thác cao đổ nước từ trong cái hang trên sườn núi xuống tạo thành một sợi thác bạc đẹp tuyệt trần, đó là đầu nguồn sông Sen cung cấp nước cho ĂngCoWat. Ở đầu nguồn này vẫn chỉ là con suối nhỏ, chúng tôi chưa bao giờ được đặt chân đến gần ngọn thác vì hướng đó thuộc địa phận của trung đoàn 95 .

Tôi vượt qua suối, bỗng thấy một con kỳ đà hoa lớn đang nằm phơi nắng trên một doi đất bằng phẳng. Tôi đưa súng cho Toán đi phía sau tôi, rồi lao nhanh đến con kỳ đà, tay phải chộp cổ, tay trái đè lưng giữ trặt xuống đất. Toán bứt dây hà thủ ô quấn chặt cái miệng, thằng Báu mở ba lô lấy dây võng trói ngược tay chân con kỳ đà lại.

Con này chỉ khoảng chục kg nhưng có vẻ rất mập mạp. Anh Hợi chính tri viên đại đội 5 cho nghỉ chân, cắt cử các trung đội cảnh giới các hướng. Trong đội hình có anh Thừm người dân tộc Mường quê ở Hòa Bình nhận nấu nướng. Anh Thừm là người làm món ăn thú rừng rất bài bản, trong ba lô anh luôn có đầy đủ gia vị, anh cắt tiết, rồi đun nước sôi, cạo vẩy, anh bảo: “Da con kỳ đà là ngon nhất, vậy mà mấy thằng lột bỏ da vứt đi, mấy chú nhìn anh làm mà học tập

Anh dùng dao cạo bay lớp vẩy sừng, để lộ lớp da bóng mỡ, rồi anh nướng sơ trên than hồng, mổ bụng pha thịt đầy một xoong, tẩm ướp gia vị , xào lên thơm lừng, rồi chế nước ninh sình sịch. Một tiếng sau chúng tôi bắc nồi thịt ra chia về cho các trung đội, đó là bữa thịt kỳ đà ngon nhất mà chúng tôi từng được ăn. Da kỳ đà giòn thơm, thịt ngọt đủ độ gia vị, vừa ăn vừa ngắm ngọn thác trên dãy Đăng Rếch, còn gì thú vị hơn. Lính chiến khổ trăm bề nhưng có ai sướng hơn lính trong những giây phút lãng mạn này.

Nguyễn Tuấn

Lịch sử Việt Nam

Người Campuchia ghét Việt Nam?

Việt Nam "giải phóng" hay "xâm lược" Campuchia? Người Campuchia "ghét" Việt Nam? Là những chủ đề mà mấy năm gần đây được giới trẻ Campuchia và Việt Nam tranh cãi, thậm chí gây hấn, xúc phạm nhau trên mạng xã hội. Vậy sự thật thế nào? Mời các bạn cùng thảo luận với Khám Phá Lịch Sử nhé.
84
Người Campuchia ghét Việt Nam?

Góc nhìn của cố Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk

Chính trị vốn phức tạp hơn nhiều so với những tuyên bố ngoại giao nhất thời. Sihanouk là một ví dụ điển hình.

Cố gắng trung lập rồi bị lật đổ bởi Lon Nol (chế độ thân Mỹ), ông quay sang hợp tác cùng Khmer Đỏ (lúc này ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ) và nhận trợ giúp từ Việt Nam và Trung Quốc.

Khmer Đỏ cầm quyền, ông trở thành tù nhân không tuyên bố, họ hàng bị Khmer Đỏ giết, bị sỉ nhục, ngồi nghe radio hóng nước nào đó sẽ mang quân đến cứu nước mình. Chỉ mỗi Cuba tố cáo, và chỉ mỗi Việt Nam đã đến.

Khmer Đỏ ép ông đến Liên Hiệp Quốc vung vít tố cáo Việt Nam xâm lược. Tuyên bố xong thì ông nhờ cựu thù Mỹ giúp trốn khỏi tay Khmer Đỏ ngay tại New York.

Ông xin sang Pháp tị nạn thì Pháp cho, nhưng cấm ông đến đó để hoạt động chính trị. Không chấp nhận, ông đến Trung Quốc là nơi ông gọi là “Tổ quốc thứ hai“. Nhưng ông từ chối gợi ý của Trung Quốc về việc hợp tác lại với Khmer Đỏ, kẻ mà ông căm ghét nhưng lại đang được Trung Quốc bảo trợ.

Căm ghét ít lâu, ông lại cộng tác cùng Khmer Đỏ để tiếp tục rủa xả Việt Nam xâm lược.

Quân Khmer Đỏ
Quân Khmer Đỏ

Đến khi Heng Samrin (cựu thủ lãnh Khmer Đỏ, sau chống lại Polpot và sang Việt Nam nhờ hỗ trợ, cùng với 150.000 quân tình nguyện quay về tiêu diệt Khmer Đỏ, trở thành Lãnh tụ Đảng nhân dân cách mạng Campuchia) đủ mạnh để khống chế các phe phái ở Campuchia… Việt Nam rút quân theo quy ước đã bàn trước đây. Sihanouk về nước làm vua, đến lễ lạt ngoại giao lại cảm ơn bạn Việt Nam đã giải phóng cứu thoát khỏi diệt chủng.

Mời các bạn đọc Hồi ký Sihanouk, để biết rõ: “Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng Khmer Đỏ càng lấn tới ngay từ khi chúng còn chưa cầm quyền; và Sihanouk đã hóng gì trong những ngày đen tối nhất dưới tay Khmer Đỏ – ông không một lời đổ lỗi cho Việt Nam, không oán trách 10 năm Việt Nam có mặt tại Campuchia bởi ông hiểu rõ không có 10 năm đó thì ngai vàng của ông sẽ không bền lâu, Campuchia sẽ không bao giờ hòa bình thực sự”.

Cũng trong hồi ký này quốc vương Campuchia cũng bày tỏ sự kính trọng đối với những nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “công dân của Đông Dương, của châu Á và thậm chí là thế giới”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là “một con người thông minh và nhạy cảm nhất” và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng thiên tài, là nhà chiến lược vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta, và là một trong những nhà chiến lược vĩ đại nhất của mọi thời đại”.

Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng Khmer Đỏ càng lấn tới ngay từ khi chúng còn chưa cầm quyền.

– Cố Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk

Cuộc chiến của tôi với CIA - Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk
Cuộc chiến của tôi với CIA – Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk

Mời các bạn tải về Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk

Góc nhìn của Sok Touch – người từng là thành viên của Khmer Đỏ

Sok Touch, Chủ tịch Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia khi còn là cậu bé 5 tuổi, chạy theo cha vào rừng và phải gia nhập Khmer Đỏ, trả lời phỏng vấn trên Khmer Times. 

Dù từng là một thành viên của Khmer Đỏ, Touch luôn ca ngợi và bảo vệ sự chính nghĩa của quân tình nguyện Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của Pol Pot. 

Là một học giả, thông điệp rõ ràng của tôi là khi người Việt Nam vào Campuchia năm 1979, họ đã giải cứu người Campuchia khỏi chế  độ Khmer Đỏ. Nếu không có sự can thiệp của bộ đội Việt Nam, tất cả chúng ta có thể đã bị giết… Năm 1989, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia, sau khi  đánh bại về cơ bản tàn quân Khmer Đỏ, củng cố chính quyền cách mạng cho  nước bạn và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình.

– Ông Touch nói, bác bỏ các luận điệu thù địch về sự hiện diện của quân tình nguyện Việt Nam trên đất Campuchia.

Góc nhìn của thủ tướng Campuchia Hun Sen

2 tác giả Harish Mehta và Julie Mehta của cuốn “Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia” (Hun Sen: Strongman of Cambodia) cho biết ngay tại Chương 1, về phần phỏng vấn HunSen rằng: “Cuộc phỏng vấn đã diễn ra êm xuôi cho tới khi chúng tôi hỏi ông một câu, trong đó chúng tôi đã nhắc đến hành động quân sự của Việt Nam để lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot như là một sự xâm chiếm.”

Điều này đã khiến cho ông Hun Sen đưa ra câu trả lời đầy sôi nổi, phẫn nộ. Ông đã nhanh chóng sửa lối giải thích lịch sử của chúng tôi, ông nói điều đó không bao giờ là một sự xâm chiếm, mà là một hành động giải phóng khỏi chế độ diệt chủng.

Ông hỏi lại bằng tiếng Anh với giọng phải cố uốn ép lên xuống, một ngoại ngữ mà ông thấy khó và chưa  bao giờ cảm thấy cần phải thành thạo “Làm thế nào tôi, một người Campuchia lại xâm chiếm đất nước của chính mình?”

Sau khi được bộ đội Việt Nam tiếp nhận ngày 20/6/1977, ông đã yêu cầu phía  Việt Nam giúp đỡ để lật đổ chế độ Pol Pot. “Tôi đã bị từ chối,” ông thất vọng kể.

Việt Nam cho biết nếu họ đồng ý yêu cầu của tôi xin giúp đỡ, họ sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia Dân chủ. Khi ấy chính phủ Việt Nam sẽ cố gắng đàm phán với Campuchia Dân chủ để làm dịu các căng thẳng quân sự trên biên giới  chung.

Việt Nam luôn luôn tôn trọng sự độc lập và chủ quyền của Campuchia, các vị lãnh đạo của Việt Nam đã từ chối lời thỉnh cầu giúp đỡ của tôi và nói điều đó có thể làm phương hại đến mối quan hệ giữa hai nước.

– Thủ tướng Campuchia HunSen

Ông Hun Sen nói, một cơ hội “vàng” đã xuất hiện khi Pol Pot tấn công Việt Nam vào năm 1977. Thái độ gây hấn của Pol Pot đã đánh dấu thời kỳ bắt đầu thay đổi chính sách của Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh được sự chào đón của người dân Campuchia
Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh được sự chào đón của người dân Campuchia

“Một bộ phận người Campuchia” thể hiện tình cảm với Việt Nam như nào?

Ngày 7/1/2009, hàng chục nghìn người Campuchia ở Phnom Penh tụ tập tại sân vận động Olympic quốc gia ở Phnom Penh, nhiệt liệt chúc mừng 30 năm ngày kỷ niệm Campuchia thoát khỏi ách thống trị của Khmer Đỏ. Các hoạt động kỷ niệm quy mô lớn sau đó do Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền tổ chức và đã thu hút hơn 40.000 người tham gia. 

Ngày 7/1/2019, Hàng chục nghìn người tập trung ở sân vận động tại Phnom Penh kỷ niệm 40 năm ngày kỷ niệm Campuchia thoát khỏi ách thống trị của Khmer Đỏ. Sau khi giúp chính phủ mới của Campuchia ngăn chặn những âm mưu trỗi dậy trở lại của tàn quân Khmer Đỏ, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia năm 1989. Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh nghĩa cử đó của Việt Nam mãi được khắc ghi. Các hoạt động kỷ niệm quy mô lớn sau đó do Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền tổ chức và đã thu hút hơn hàng vạn người tham gia trên toàn quốc.

Vậy “người Campuchia ghét Việt Nam”? hay “một bộ phận nào đó” người Cam ghét Việt Nam?! 

Qua tìm hiểu các bài viết có liên quan đến chủ đề “người Campuchia ghét Việt Nam” đều có những luận điểm sau:

–  “Một thanh niên Cam nói “17/20 người trong số bạn bè của tôi ghét Việt Nam, và cho rằng Việt Nam có âm mưu mờ ám””. Luận điểm này thường được ghi nguồn là “Một bài viết trên báo Campuchia ngày 6-9-2014 đưa lời dẫn…”, qua tìm hiểu thì đó là tờ “The Phnom Penh Post”, nếu chỉ đọc cái tên thì đa số mọi người đều “ồ, đây là 1 tờ báo của người Campuchia”. Tất nhiên đây là 1 tờ báo ở Campuchia, có điều chủ của tờ báo này là “nhà xuất bản Michael Hayes” và được 01 tổ chức NGOs có trụ sở tại Úc đầu tư. Và bài báo này đăng tải năm 2014 (nhớ kỹ cái năm này nhé).

– “Nhà tù S21 nơi trưng bày hàng trăm cái đầu lâu của dân Campuchia bị giết, giấy trắng mực đen ở đây vẫn tuyên bố Việt Nam xâm lược Campuchia. Tại sao người Campuchia coi Việt Nam là quân xâm lược?”. Luận điểm này xuất hiện trên tờ “The Cambodia Daily” và tờ báo này do Bernard Krisher, một nhà báo Mỹ thành lập. Krisher thuê hai nhà báo trẻ và tương đối thiếu kinh nghiệm, Barton Biggs và Robin McDowell, là biên tập viên của tờ báo từ năm 1993. Đồng thời luận điểm này cũng xuất hiện trên báo từ năm 2014 (lại là năm này).

Nói thêm thì “Invade” và “occupy” được nhắc tới trong bài Nhà tù S21 thì trong tiếng Anh không mang hàm ý xấu dù theo tiếng Việt nhiều người lại hay dịch là “xâm lược”“chiếm đóng”. Bởi trong tiếng Anh người ta cũng gọi nó là The Normandy Invasion – mà nếu dịch ra tiếng Việt sẽ là cuộc xâm lược Normandy, hàm ý là bọn xâm lược là bọn xấu xa. Các lực lượng Mỹ đóng quân ở Nhật Bản hay châu Âu sau Thế chiến cũng được gọi kể cả trong văn bản chính thức là Occupation Forces – các lực lượng chiếm đóng. Hai ví dụ này là bằng chứng để mọi người hiểu và bình tĩnh lại khi phản ứng quá mạnh mẽ với những từ ngữ không có chung nội hàm trong các ngôn ngữ.

Như vậy cái cụm từ “Invade” và “occupy”  xuất hiện ở các bảng hướng dẫn tại Nhà tù S21 không có ý nghĩa là “xâm lược” hay “chiếm đóng”. Theo đúng bản chất tiếng Anh là “Invade” có nghĩa là “đưa quân vượt biên giới…” và “occupy” có nghĩa là “duy trì sự hiện diện”.

– “Tìm hiểu ân oán Việt Nam – Campuchia” do Tiến sĩ (?) Nguyễn Mai Phương đăng tải trên facebook cá nhân và được Page The X-file of History đăng tải lại gần đây đều sử dụng nguồn từ các báo chí phương Tây, thậm chí là trích nguồn các luận điểm trên của 2 tờ báo nêu trên để cho đậm đà bản sắc Campuchia. Và cũng thật lạ là bài này được tăng tải lên mạng từ năm 2014!

(Lát nữa phần dưới sẽ nói về cái năm 2014 này!)

Vì sao Việt Nam phải đóng quân 10 năm tại Campuchia?!

Quan điểm của Hun Sen

Về việc quân đội Việt Nam ở lại Campuchia sau khi đánh đuổi quân Khmer Đỏ về vùng biên giới, Ông Hun Sen giải thích: “Chính tôi đã nói với Lê Đức Thọ (Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác rằng nếu họ rút quân và Pol Pot quay trở lại được, thì càng nhiều người sẽ bị giết. Vào thời điểm đó, các lực lượng của Campuchia không đủ sức chống lại Pol Pot và chúng tôi cần thời gian để củng cố các lực lượng và nền kinh tế của mình.”

Ông nói thêm:

“Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế. Sau đó chúng tôi đồng ý họ sẽ thử giảm bớt các lực lượng của họ vào năm 1982. Chính phủ Việt Nam giảm quân số, còn chúng tôi sẽ tăng lực lượng của mình lên. Ngay cả khi là một Bộ trưởng Ngoại giao, tôi vẫn can dự vào một chiến lược như thế.

“Tôi vẫn còn nhớ cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao gồm Campuchia, Lào và Việt Nam ở Hà Nội vào năm 1985, chúng tôi đã đồng ý là các lực lượng bộ đội Việt Nam sẽ rút quân từ 10 tới 15 năm nữa. Nhưng do sự phát triển nhanh chóng của các  lực lượng vũ trang Campuchia, và các cuộc đàm phán (hòa bình) giữa Sihanouk và tôi, chúng tôi đã rút các lực lượng bộ đội Việt Nam sớm hơn”.

Quan điểm của Việt Nam

“Năm 1979 chúng ta mới chỉ đánh tan chế độ diệt chủng Pol pot, nhưng chưa tiêu diệt hết lực lượng Khmer Đỏ và kể cả thủ lĩnh của chúng, chúng vào rừng và chạy qua Thái Lan lập chiến khu nhận viện trợ của Mỹ, Trung Quốc, Singapore rồi sẽ phản công trở lại. Nếu Việt Nam rút quân thì vài ngày sau Pol pot sẽ trở lại Phnompenh, mọi chuyện quay lại xuất phát ban đầu. Tiếp tục ở lại tiêu  diệt bằng hết Khmer Đỏ và giúp Campuchia xây dựng nhà nước là điều phải làm, không có cách nào khác.” 

Ngoài ra, Việt Nam vừa trải qua cuộc kháng chiến trăm năm mới giành lại toàn vẹn độc lập, thống nhất từ tay Pháp – Nhật – Mỹ, Chiến tranh biên giới với Trung Quốc cũng chỉ vừa mới lắng xuống, quan hệ giữa 2 nước vẫn đang nóng. Không thể để xảy ra tình trạng “lưỡng đầu thọ địch” như năm 1979. Đồng thời, khối ASEAN lúc đó được thành lập chủ yếu là để chống lại Việt Nam, tư duy lãnh đạo Việt Nam lúc đó thấy rõ “Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào nhưng chư hầu của Mỹ thì vẫn vây bám Việt Nam”. Nếu không thể đảm bảo tuyến phòng thủ phía Tây Nam vững chắc để duy trì sự bình ổn cho đất nước thì vĩnh viễn Việt Nam sẽ không bao giờ có thời gian xây dựng, phát triển đất nước. Ở thế bất khả kháng, Việt Nam buộc phải duy trì sự hiện diện ở Campuchia trong một thời gian dài.

Thêm nữa, khi đó quân đội Cách mạng nhân dân Camphuchia mới được tái thành lập, khí tài thiếu thốn, kinh nghiệm gần như không có. Các thế lực trong nước (Cam) liên tục xuất hiện chống đối, Thái Lan đã tổ chức hàng ngàn căn cứ “kháng chiến” xung quanh biên giới “Thái – Cam” làm nơi ẩn náu không chỉ cho Khmer Đỏ mà còn cho các thế lực chống Việt Nam. Phe “Bảo Hoàng” gia tăng việc tuyên truyền hình ảnh cho Sihanouk như “một vị cứu tinh có thể gắn kết dân tộc” chống lại việc xây dựng 01 nhà nước XHCN ở Campuchia. Vấn đề “thù trong – giặc ngoài” ở Campuchia chỉ trực nổ tung, cái hòa bình cỏn con mà người Cam mới đạt được có thể bị hủy chỉ trong 01 ngày! Tướng Heng Samrin giữ trạng thái trung lập càng gây khốn khó cho HunSen trong việc chấn chỉnh nội bộ Campuchia. Chính vì thế việc duy trì sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia đã giúp đất nước này thoát khỏi cái vấn nạn như Syria, Yemen, Libia… đang diễn ra lúc này.

Quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân tại Campuchia trong 10 năm -
Quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân tại Campuchia trong 10 năm – “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế”

Vì sao có “một bộ phận người Campuchia ghét Việt Nam” và cái luận điểm này xuất phát từ đâu?

– Jaturapattarapong, cựu sinh viên trường Đại học Queensland trả lời BBC News (UK) như sau: “Đảng đối lập Chính phủ Hun Sen luôn duy trì chính sách bài  Việt Nam. Các chương trình tuyên truyền đều nhắm vào cộng đồng người Việt, với phần lớn dân số Campuchia sống tại nông thôn, họ rất dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin truyền bá này.”

– Năm 2012, Đảng Cứu quốc Campuchia (CNRP) được thành lập và năm 2013 thực hiện cuộc chạy đua cuộc tổng tuyển cử năm đối đầu với Đảng nhân dân Campuchia. Để thực hiện việc “kiếm phiếu bầu”, CNRP đã tung ra chiêu bài “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó” xúi giục bộ phận người dân Cam mà nòng cốt là những thành phần trước đây được hưởng lợi từ chế độ Lon Nol và Khmer Đỏ ra mặt chống phá, cũng trong quá trình chạy đua này CNRP đã nhiều lần tổ chức các cuộc “vượt biên trái phép” sang Việt Nam để cắm mốc chủ quyền, đòi lại đất của Đế quốc Khmer (trước đây), đỉnh điểm là năm 2014 số vụ xâm phạm lãnh thổ Việt Nam do CNRP giật dây ngày càng nhiều, khiến cho Việt Nam phải tăng cường mức độ cảnh báo quốc phòng.

CNRP đã tung ra chiêu bài
CNRP đã tung ra chiêu bài “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó” để xúi giục bộ phận người dân Campuchia mà nòng cốt là những thành phần trước đây được hưởng lợi từ chế độ Lon Nol và Khmer Đỏ ra mặt chống phá.

Tại thời điểm này (năm 2014), “Đoàn hòa bình (Peace Corps)” của Mỹ bị Cục An ninh Campuchia điều tra với lý do đứng sau việc hẫu thuận cho CNRP tổ chức các hoạt động nhằm lật đổ HunSen. Được biết việc thành lập CNRP cũng có sự “lobby” của PC đối với các chính trị gia, đảng phái khác trong chính phủ nhằm tạo ra thế cân bằng với Đảng Nhân dân Campuchia của HunSen. Đến năm 2017, “Đoàn hòa bình  (Peace Corps)” bị Chính phủ Campuchia buộc phải rút khỏi Campuchia, cũng trong năm này CNRP bị Tòa án Tối cao Campuchia ra phán quyết giải thể với tội danh “phản quốc”, âm mưu lật đổ chính quyền hiện tại một cách bất hợp pháp.

Như vậy, Luận điểm “người Campuchia ghét Việt Nam” thực chất bắt đầu nở rổ và phát triển mạnh tạo thành “dòng tư tưởng” trong người Việt là từ năm 2014. Khi mà CNRP và Mỹ đứng sau thực hiện các âm mưu nhằm phá hoại tình đoàn kết “Việt-Cam” cũng như âm mưu lật đổ chính quyền HunSen.

Phải chăng “tinh thần tự nhục” của người Việt đã vượt quá sự kiểm soát kể cả về mặt tinh thần khi mà chỉ cần “nghiên cứu” các tài liệu có nguồn gốc từ “Tây – Mỹ” là y rằng tin răm rắp, rồi từ đó về biên thành 01 bài dài ngoằng gắn thêm cái mác “Tiến sĩ” sau đó khiến cả ngàn người Việt “tự nhục” tin theo, để rồi trong tiềm thức cứ đinh ninh “người Campuchia ghét Việt Nam”.

Tôi đảm bảo rằng, “một bộ phận người Campuchia ghét Việt Nam” là có, bởi ở thời kỳ nào, đất nước hay chế độ nào luôn luôn có 01 bộ phận nào đó của dân tộc nào đó ghét những dân tộc, đất nước khác. Có điều đừng nhập nhằng ghi rằng “người Campuchia ghét Việt Nam”, một bộ phận kia không đại diện cho tất cả. Còn những người Campuchia có tiếng nói, có uy tín và đã từng tham gia Khmer Đỏ đã lên tiếng nhiều lần phản bác cái luận điểm “người Campuchia ghét Việt Nam”!

Các bạn không chung tay xây dựng đất nước được thì cũng đừng góp công phá hoại! Giữa đám đông có thể lạc quan, có điều khi còn một mình thì… lạc lối đấy!

Bão Lửa