Hồi ức lính

Thử tý thôi

260
thienvt

Sự ngộ nhận này rất phổ biến, trên mạng khi cần gọi họ tên thật người ta đa số nói Ngô Tuấn, báo chí nếu có nhắc thì cũng là Ngô Tuấn, website một số trường đặt tên ông khi khi viết thông tin về họ tên gốc cũng ghi họ ông là Ngô, tên Tuấn.

fgdgdgdfgd

iytutuytutut

gfjhgjhjgj

rtryryrt
Theme wordpress

Theme Vnnews – Theme tin tức siêu nhanh, nhẹ, mượt, chuẩn SEO

Wordpress theme Vnnews dành cho các website tin tức Việt Nam phiên bản v1.0 chính thức siêu nhẹ, siêu mượt, siêu nhanh mới cập nhật hôm nay
1453
Theme Vnnews - Theme tin tức siêu nhanh, siêu nhẹ, siêu mượt, chuẩn SEO

Theme Vnnews v1.0

Cập nhật 1/2/2021

– Theme Vnnews sử dụng:

+ Core grid layout bootstrap gồm: lg, md, sm, xs và custom thêm xxs tương ứng kích thước <= 480. Loại bỏ hết css bootstrap không sử dụng, loại bỏ js bootstrap.

+ Jquery, flickity (slide), lightgallery(light box cho ảnh), lozad thay thế cho lazyload, icon svg code

+ Sử dụng thêm plugin Advanced Custom Fields để tùy biến thêm cấu hình web và bổ các thuộc tính cho bài viết

– Đầy đủ schema Organization, LocalBusiness, Person, CollectionPage(danh mục), AudioObject, CreativeWorkSeries, BlogPosting, FAQPage, Event, BreadcrumbList…Hoàn toàn tự động tạo

– Tự nhập Seo Title, Seo Description cho bài viết. 

– Tự động quét các thẻ h2, h3 làm table of content(Mục lục) cho bài viết. Tùy chọn hiện thị table of content

– Tùy chọn tự nhập schema FAQPage cho bài viết

– Tạo vote cho bài viết tính theo ip người dùng

– Đếm lượt xem bài viết theo session

– Trên mobile, máy tính bảng ngoài menu toogle, menu chính chuyển thành dạng vuốt, trượt

– Custom post event với countdown kèm schema CreativeWorkSeries

– Phân trang ajax load, kích thước màn hình <=480 sẽ load khi trượt, vuốt màn hình

– Tạo feed rss riêng theo từng danh mục và tất cả.

– Đặc biệt khi sử dụng theme Vnnews cùng với Plugin Text To Audio – Tự động chuyển nội dung bài viết thành audio, theme sẽ tự động tạo rss feed audio theo từng danh mục và tất cả. Có thể dùng feed audio này để đăng ký các kênh podcast như apple, google, amazon, spotify…thu được vô số backlink chất lượng.

Check Gtmetrix
Check Gtmetrix

*Điểm lighthouse khi chưa sử dụng các plugin tối ưu, chưa cache từ 95 -100

**Mình đã lược bỏ hầu hết những thứ mặc định của wp mà theme không dùng đến. Đa số tính năng của theme Vnnews mình tự code chứ không sử dụng plugin nên tránh được việc dư thừa gây nặng cho web. Ví dụ như menu toogle trên mobile, vote cho bài viết, countdown event, table of content float…

Cập nhật 27/2/2021

– Tùy biến hiển thị bài viết tại trang chủ, danh mục, search, single…

Tùy chọn hiển thị bài viết
Tùy chọn hiển thị bài viết

Cập nhật 17/3/2021

– Thay đổi kích thước logo + thay đổi menu tương ứng

– Tùy nhập url google app, Analytic, fontsize, google font…

– Thêm menu footer

– Thêm submenu cấp 3

– Tối ưu thêm tốc độ, loadtime và điểm số lighthouse.

Cập nhật 12/4/2021

– Thêm tùy chọn nhập nội dung cho danh mục, tùy chọn vị trí hiển thị (SEO danh mục)

– Thêm tùy chọn tạo TOC (h2-h6)

Cập nhật 21/4/2021

– Thêm cài đặt cấu hình rss podcast giúp dễ dàng thực hiện đăng ký các kênh podcast apple, google, spotify, amazon…

– Thêm logo footer có thể tùy chỉnh kích thước

– Tùy chỉnh author avatar

– Tùy chỉnh hiển thị Google Android App ở footer. Tự động chia số cột layout tương ứng

– Do Audio player html mặc định sẽ gây ra sự cố về điểm CLS nên mình thay bằng Aplayer

– Fix lỗi schema

Cài đặt Rss Podcast
Cài đặt Rss Podcast

Liên hệ

Để sử dụng theme Vnnews vui lòng liên hệ:

Email: thienvt@gmail.com

Call/sms/zalo: 033 439 0000

FB: https://www.facebook.com/thienvt36

Plugin wordpress

Plugin Text To Audio Pro: Chuyển văn bản thành audio, tạo video, upload to Youtube

Plugin Text To Audio tự động chuyển nội dung bài viết thành giọng nói với đầy đủ giọng đọc nam, nữ, 3 miền Bắc, Trung, Nam.
1084
Plugin Text To Audio

Text To Audio v1.0

Cập nhật ngày 1/2/2021

– Sử dụng giọng đọc AI của FPT với 9 giọng đọc 3 miền, nam và nữ

– Schema AudioObject được tạo tự động khi tạo thanh công audio

Cập nhật ngày 6/2/2021

– Thêm thông tin về tài khoản: Gói cước, hạn sử dụng

– Hiển thị player audio luôn trong bài viết đang edit ngay sau khi tạo thành công audio

– Xóa audio

Cập nhật ngày 17/2/2021

– Fix lỗi không tương thích với Flatsome

– Cập nhật thông tin các gói cước lifetime

Text To Audio v2.0

Cập nhật ngày 8/3/2021

– Thêm giọng đọc Zalo AI, với 4 giọng đọc Nam – Bắc, nam – nữ. Siêu mượt

– Thay đổi lại các gói cước cho phù hợp, nhiều ưu đãi hơn, đảm bảo Ngon – Bổ – Rẻ cho ae

– Như vậy tới thời điểm hiện tại plugin Text To Audio gồm tất cả 13 giọng đọc AI từ FPT và Zalo

Plugin Text To Audio v 2.0 cập nhật ngày 8/3/2021

Cập nhật ngày 18/3/2021

– Thêm tùy chọn giọng đọc mặc định

– Thêm từ điển (Đọc các từ viết tắt)

Text To Audio Pro V1.0

Ra mắt ngày 05/6/2021

Plugin Text To Audio Pro V1.0
Plugin Text To Audio Pro V1.0

Ngoài tính năng vốn có của phiên bản thường thì Text To Audio Pro còn có thêm các tính năng:

– Tạo Video: Mix audio + toàn bộ ảnh trong bài viết để tạo thành video.

– Đóng dấu văn bản lên video, set thời gian chuyển ảnh trong video.

– Upload video lên kênh Youtube của bạn với tiêu đề, description, tags là của chính bài viết + chèn thêm link

Plugin Text To Audio Pro

Liên hệ.

Email: thienvt@gmail.com

Call/sms/zalo: 033 439 0000

FB: https://www.facebook.com/thienvt36

Lịch sử Việt Nam

Dân biểu và thể chế

682
An nam

Bốn đại biểu nổi tiếng trong hoạt động chất vấn tại

Quốc hội đã được đúc kết thành câu ngạn ngữ dân gian: “Nhất Ngoạn, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc”, đều do Trung ương giới thiệu.

Khi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội

, tôi thường quan tâm và lựa chọn các ứng cử viên của Trung ương.

  • aaa
  • bbbb
  • cccc
  1. 1111
  2. 3333
  3. 222

Ví dụ như lần bầu cử gần đây nhất, trong số 5 ứng cử viên ở đơn vị bầu cử nơi tôi cư trú – ba của địa phương và hai của Trung ương – tôi đã chọn bầu cho cả hai ứng cử viên của Trung ương và chỉ chọn một ứng cử viên của địa phương.

Bởi tôi hiểu rằng, việc các ứng cử viên của Trung ương trúng cử rất quan trọng để vận hành thể chế. Họ có động lực đại diện cho lợi ích quốc gia lớn hơn. Đồng thời, phần lớn những đại biểu do Trung ương giới thiệu có vị thế độc lập hơn để giám sát Chính phủ. Bốn đại biểu ở trên là một ví dụ.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước”.

Điều này có nghĩa, các đại biểu vừa phải đại diện cho đơn vị bầu cử, vừa phải đại diện cho quốc gia. Trên thực tế, khi lợi ích của đơn vị bầu cử và lợi ích quốc gia trùng nhau, mọi việc hết sức dễ dàng. Thế nhưng, khi lợi ích đơn vị bầu cử và lợi ích quốc gia không trùng hợp, mọi việc sẽ không hề đơn giản.

Tuy nhiên, là đại biểu Quốc hội, lợi ích quốc gia bao giờ cũng phải được coi là tối thượng. Và rất nhiều vị đã tuân thủ nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Nhưng còn một khía cạnh rất đáng quan tâm ở đây

Hiến pháp năm 2013

không hề nói đến việc đại diện cho các tỉnh. Song xét về nền tảng bầu cử, động lực đại diện cho các tỉnh của các đại biểu lại rất lớn.

Lý do là vì số đại biểu Trung ương giới thiệu bao giờ cũng ít hơn con số các tỉnh giới thiệu. Thông thường, đại biểu của Trung ương chỉ chiếm hơn 1/3 số ghế trong Quốc hội – 167 ghế cho rất nhiều nhiệm kỳ. Trong nhiệm kỳ vừa qua, nhóm này đã tăng nhẹ, nhưng cũng chỉ 182 ghế, chiếm trên 36%.

Thực tế, số ứng cử viên do Trung ương giới thiệu là 197 trên tổng số 870 người, chỉ chiếm khoảng 23%. Nghĩa là ứng cử viên và đại biểu của các tỉnh bao giờ cũng áp đảo. Đây là lý do tại sao nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Quốc hội nước ta mang tính đại diện cho các tỉnh hơn.

Động lực đại diện cho địa phương còn được tăng cường bởi một thực tế khác. Đó là cho dù bạn là ứng cử viên của Trung ương, nhưng khi được đưa về địa phương ứng cử, bạn sẽ trở thành đại biểu của địa phương. Do đó, thực chất chúng ta không có đại biểu nào là của Trung ương cả. Tất cả đều là đại biểu của các tỉnh.

Trong số 197 ứng cử viên đại biểu

do Trung ương giới thiệu, ai được cử về Nghệ An, trúng cử, sẽ trở thành đại biểu của Nghệ An, về Thanh Hóa thì thành đại biểu Thanh Hóa. Thành thử khi về Thủ đô họp Quốc hội, bao giờ cũng là 63 đoàn đại biểu của 63 tỉnh, thành.

Ngoài ra, động lực đại diện cho các tỉnh còn được củng cố bởi cơ hội trúng cử của các ứng viên phụ thuộc không hề nhỏ vào công tác tổ chức bầu cử của địa phương, từ việc sắp xếp liên doanh, lựa chọn đơn vị bầu cử… đến việc tổ chức vận động bầu cử.

Thực ra, ứng viên của Trung ương có đến ba nhóm: nhóm sẽ nắm các chức vụ hành pháp; nhóm sẽ làm đại biểu chuyên trách; nhóm đại diện cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể Trung ương. Trong đó, các ứng viên nhóm thứ nhất và có quyền phân bổ nguồn lực thường được ưa thích hơn. Thậm chí, nhiều địa phương còn trực tiếp vận động để có được họ. Rất tiếc, đây không phải là điều ta có thể nói về hai nhóm ứng viên còn lại.

Các đại biểu của Trung ương

đóng vai trò rất quan trọng cho việc vận hành nền quản trị quốc gia. Trước hết, họ là nhân tố quan trọng để bảo đảm cho Quốc hội thật sự đại diện cho lợi ích quốc gia. Thử tượng tượng xem, nếu tất cả các vị đại biểu đều chỉ tranh đấu cho 63 tỉnh thì làm sao đại diện cho lợi ích chung của cả quốc gia được? Phải chăng, do động lực đại diện cho các tỉnh quá lớn, nên việc xác lập các ưu tiên của quốc gia vừa qua đã hết sức khó khăn? Nên, các nguồn lực nhiều khi bị phân bổ phân tán: tỉnh nào cũng có cảng biển, sân bay, sân vận động, quảng trường, tượng đài hoành tráng?

Sau nữa, chỉ những đại biểu do Trung ương giới thiệu không thuộc khối hành pháp (đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Quốc hội do các tổ chức trung ương thuộc Mặt trận Tổ quốc giới thiệu) mới có thể giám sát các cơ quan hành pháp mà không vướng vào xung đột lợi ích. Bất cứ khi nào các đại biểu địa phương giám sát quá mạnh, lợi ích của địa phương rất dễ bị ảnh hưởng. Ví dụ, một đại biểu địa phương không thể không nhìn trước, ngó sau và cân nhắc rất thận trọng rồi mới chất vấn hay phê phán một bộ trưởng. Ai cũng hiểu rằng, chất vấn “không khéo” thì các dự án cho địa phương có thể bị ảnh hưởng. Như vậy, trong một Quốc hội, động lực đại diện cho địa phương quá lớn thì việc giám sát các bộ trưởng sẽ rất khó khăn.

Những phân tích trên cho thấy, việc bảo đảm cho các ứng cử viên của Trung ương trúng cử rất quan trọng. Tuy nhiên, đây là điều không dễ mà có.

Khi tôi còn làm việc ở Quốc hội cách đây khoảng 20 năm, một cuộc khảo sát về hành vi bầu cử của cử tri cho thấy, có tới 75% cử tri sẽ chọn bỏ phiếu cho các ứng viên là người của địa phương. Xu thế này có thay đổi trong cuộc bầu cử vào tháng 5 tới không? Không có một cuộc khảo sát mới, ta không thể nào biết được.

Cơ hội để trúng cử vào Quốc hội khóa tới đầu tiên phải công bằng. Chúng ta kỳ vọng bản thân các ứng viên có uy tín cao, có khả năng đại diện thực sự cho lợi ích chung của dân, của nước sẽ được lựa chọn. Bên cạnh đó, sự hiểu biết về vai trò của các ứng viên do Trung ương giới thiệu với việc vận hành thể chế cũng rất quan trọng để cử tri có sự lựa chọn chính xác hơn.

Suy cho cùng, một nhà nước do dân mới có thể vì dân.

Văn hóa thế giới

Trào lưu trở về với thiên nhiên của giới trẻ kiệt quệ Trung Quốc

Chán ngán với sự cuồng quay của cuộc sống đô thị, giới trẻ Trung Quốc đang bắt đầu lại ở thôn quê, nơi họ định dựng xây một xã hội mới không có giai cấp hay đặc quyền.
840
Trào lưu trở về với thiên nhiên của giới trẻ kiệt quệ Trung Quốc

Ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, ngồi trên mặt đất cỏ mọc um tùm, bao quanh bởi những ngọc đồi lởm chởm Li Junxian càu nhàu khi đang dùng thuổng đâm xuống đất. “Nếu ba mẹ thấy điều tôi đang làm, họ sẽ rất bực mình.” Chàng trai 30 tuổi cười cười, xúc lên đất bẩn. Mặc áo hoodie xám và sneakers hiệu, Li rõ ràng không thạo việc nhà nông.

Anh đến từ đại đô thị phía Nam, Quảng Châu, và đã làm đại diện bán hàng cho 1 doanh nghiệp thương mại quốc tế cả thập kỷ qua. Nhưng 1 tháng trước, quá tải bởi những đấu đá văn phòng không hồi kết cùng cảm giác lạc lõng giữa đô thị phồn hoa, quyết định cuối cùng được thực hiện. Anh bỏ việc, nhảy lên xe, và tự lái hơn 10 tiếng giữa những cung đường lộng gió tới vùng đất “sơn cùng thủy tận” này của tỉnh Phúc Kiến, đông nam TQ.

Chán nản với áp lực của cuộc sống thành thị, một nhóm giới trẻ Trung Quốc đã thành lập một cộng đồng trên một sườn đồi cằn cỗi để cố gắng sinh sống. Nhưng liệu họ có thể tồn tại mà không có những tiện nghi vật chất?

Li gia nhập Southern Life Community (SLC) – 1 trong những cộng đồng chọn lối sống chia sẻ, phần lớn tự cung tự cấp các nhu cầu. Được xây dựng trên 1 sườn đồi gồ ghề, rậm rạm cây cỏ, chỗ ở của cộng đồng gồm 2 ngôi nhà, 1 nhà kho xập xệ và 1 túp lều mà cư dân hay gọi là “Mái vòm” (The Dome). Cùng với 6 con gà và 1 nhà vệ sinh hữu cơ dùng mạt cưa thay nước.

Điều kiện sống khắc nghiệt không hề ngăn cản Li và cả tá cư dân khác sinh hoạt. Cả nhóm, tuổi từ 8-9X, cùng cam kết tạo ra 1 xã hội mới “không có giai cấp hay đặc quyền”.

Nếu bố mẹ tôi có thể thấy những gì tôi đang làm, họ sẽ rất tức giận.

– Li Junxian, commune member

Và họ không đơn độc. Vài năm gần đây, thanh niên TQ gia tăng sự vỡ mộng với văn hóa làm việc 996 hoặc tồi tệ hơn là 007, kèm với sự kèn cựa nhau thường trực khi sống tại những đô thị lớn. Khiến họ tìm đến 1 loạt các phong cách sống mới: Từ kiểu sống siêu tiết kiệm, đến văn hóa ẩn sĩ, hay sống với hệ thống thực phẩm hữu cơ (alternative food networks).

Cộng đồng như SLC đã nhận được cú hích lớn từ đại dịch Covid -19, thứ khiến nhiều người TQ phải đánh giá lại các ưu tiên xã hội, vấn đề xã hội thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế. Nhiều người tham gia vào các phong trào cách sống mới này do đang kiếm tìm 1 phương hướng cho cuộc đời. Họ vừa trải qua những biến cố không thể ngờ, đang ở “nút cổ chai” của cuộc đời hoặc đang dự định khởi đầu 1 giai đoạn mới trong đời.

Từ lúc gia nhập SLC, Li dành nhiều ngày trồng trọt, làm đồ thủ công, cải tạo nơi ở chung. Nơi này đã dạy cho anh cách 1 xã hội khác vận hành. “Đây là 1 hành trình trị liệu, chữa lành tâm hồn. Khác với mấy kẻ sống ở đô thị, người nơi đây chân thật, nhiệt tình, tốt bụng.” Li nói.

Cộng đồng cũng kịch liệt chống lại thứ văn hóa quyền lực bề trên – kẻ dưới vốn chi phối đời sống văn phòng tại TQ, và chỉ tổ chức họp nhà chung để quyết định cách dùng điện, nước, quỹ đất hạn hẹp của cả cộng đồng. Mọi người không cần hoàn thành nhiệm vụ hay chia sẻ tài sản cá nhân, song họ thi thoảng tụ tập lại, nấu ăn, ca hát và ngâm thơ.

Quỹ thời gian của một người thường không đủ vì ta thường phung phí quá mức. Ta cần phải hiểu rõ điều ta thực sự muốn và phát triển mối quan hệ thân mật với người khác.” Tang Guanhua, người sáng lập SLC, nói. Tang dáng gầy, tóc dài, mặc quần vải thụng, là 1 người đi đầu của các phong trào “lối sống mới có trách nhiệm“. Cựu nhân viên thiết kế đồ họa freelance bắt đầu chán nản cuộc sống ở thành phố Thanh Đảo và nghĩ về lối sống mới từ những năm 2009 – 2010.

Tang Guanhua, người sáng lập Southern Life Community, nằm trên đống cỏ khô, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 2 tháng 12 năm 2020.
Tang Guanhua, người sáng lập Southern Life Community, nằm trên đống cỏ khô, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 2 tháng 12 năm 2020. (Ảnh Shi Yangkun / Sixth Tone)

Công việc của tôi lúc đó là tạo ra các sản phẩm thu hút, đi kèm 1 câu slogan thời thượng và hiệu ứng thị giác nhằm hấp dẫn khách hàng mua sản phẩm. Nhưng tôi không rõ bản thân sản phẩm có hữu ích không nữa, liệu những thứ tôi quảng cáo sẽ gây hại cho ai đó?

Giải pháp Tang đưa ra là loại bỏ hoàn toàn hệ thống tư sản. Anh cho rằng, nếu mọi người có thể sống tự cung tự cấp , mọi vấn đề của xã hội sẽ được giải quyết, phá vỡ rào cản của giai cấp và giới tính, thúc đẩy tự hoàn thiện và loại bỏ cạnh tranh trong xã hội.

Năm 2010, Tang tự giải thoát, bằng việc chuyển đến 1 lều nhỏ trên núi Laoshan, cách Thanh Đảo 30km. Lúc đầu, bạn đồng hành duy nhất của anh là 1 cô gái mảnh khảnh, đeo kính tên Xing Zhan, người Tang gặp gỡ ở 1 triển lãm nghệ thuật 2 năm trước. Xing, một chuyên gia phân tích sàn chứng khoán, có những nghi ngờ lớn về công việc của mình, đã bị hấp dẫn bởi cái nhìn phóng khoáng của Tang. Cô đến thăm núi Laoshan 2 lần mỗi tuần để hỗ trợ tinh thần cho Tang, cuối cùng, cô cũng nghỉ việc và gia nhập cùng Tang. Cặp đôi sau đó đã kết hôn.

Quang cảnh từ chân núi nơi cộng đồng SLC tọa lạc, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 1 tháng 12 năm 2020
Quang cảnh từ chân núi nơi cộng đồng SLC tọa lạc, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 1 tháng 12 năm 2020. (Ảnh Shi Yangkun / Sixth Tone)

Đều lớn lên ở thành thị, cả 2 ít có những kỹ năng sống cần thiết. Tang nhớ lại, họ lúc đó thậm chí không phân biệt nổi đâu là rau đâu là cỏ. Nhưng quyết tâm thực hiện ước mơ đã giúp họ xây dựng cuộc sống mới. Nhờ đọc các chỉ dẫn trên mạng, họ học cách làm xà bông, dệt quần áo, rèn kim khí và tạo ra điện từ chiếc xe đạp chuyên dụng.

Lúc ấy, cặp đôi đã ghi lại các quá trình tạo ra sản phẩm và đăng tải lên blog, sau đó còn biên soạn 1 cẩm nang sinh tồn chia sẻ miễn phí. “Bạn trở nên tự tin khi bạn có thể tạo ra nhiều thứ từ đôi bàn tay mình. Thậm chí, nếu chúng tôi mắc kẹt trên 1 hòn đảo, chúng tôi cũng có thể biến nó thành nhà mình.” Xing nói.

Sáng kiến của cặp đôi, “tương lai của văn minh nhân loại” như cách họ gọi , nhanh chóng thu hút sự chú ý của truyền thông. Một số bình luận chế giễu Tang và Xing là những kẻ ảo tưởng, số khác lãng mạn hóa cuộc sống của họ đầy mộc mạc, lành mạnh. Cặp đôi đã có 1 lượng fan theo dõi ổn định.

Năm 2015, các nhà đầu tư BĐS hướng tới Laoshan, khiến cặp đôi khốn đốn. Phải nhờ tới sự giúp sức từ Zhenro Foundation, 1 tổ chức môi trường trụ sở ở Phúc Kiến, thì Tang và Xing mới có thể tiếp tục trải nghiệm cuộc sống họ muốn, thiết lập Southern Life Community ở 1 khu đất rộng 202 hecta đã được Zhenro Fuoundation trả tiền. Kinh nghiệm này dạy cho họ lợi ích của việc có hệ thống hộ trợ mạnh mẽ, vậy nên họ quyết định tập trung phát triển cộng đồng.

Để thu hút các thành viên, họ cho phép cư dân mới tự chọn phương thức sống tự cung tự cấp mà cư dân muốn. Từ 1 số fan trung thành, khu định cư đã tăng lên tới khoảng 30 cư dân và truyền cảm hứng cho những cộng đồng khác ở Trung Quốc, bao gồm tập thể thiếu niên 706 ở Bắc Kinh. Nhưng dự án cũng phải giảm bớt sự chống đối hệ thống tư sản, điều mà Tang không muốn.

Nhiều thành viên mới chỉ tới ở vài tuần, và hiếm khi sống mà không dùng điện. Trên núi có mạng internet, mọi người thường mua thực phẩm ở 1 ngôi làng gần đó. Thậm chí 1 số còn đặt hàng qua các app giao đồ. Các cửa hàng địa phương hạnh phúc khi kinh doanh tốt lên, nhưng dân làng nhận ra cộng đồng SLC và cư dân của nó gặp nhiều khó khăn.

Lin, 1 người già 50 tuổi ở địa phương nói rằng, ông thường tự hỏi những thanh niên ông gặp đang cố gắng đạt được thứ gì? “Chúng gọi đó là trải nghiệm, nhưng tôi chẳng hiểu chúng đang trải nghiệm cái gì nữa?” Ông nói. “Chúng chẳng làm gì cả? Thấy không? Đất đai đa phần đã cằn cỗi hết cả.

Các bạn trẻ gọi đây là “trải nghiệm“, nhưng tôi không biết họ đang trải qua những gì?

– Lin, dân làng địa phương

Tang thi thoảng nói với những người mới đến về 1 cách sống bền vững hơn nhưng thuyết trình không phải thế mạnh của Tang. Anh thường mặc kệ những cư dân khác tự xoay sở với đống thiết bị của họ, thậm chí chẳng buồn chào hỏi những người mới đến . Nhưng a thừa nhận là muốn cổ vũ mọi người tự cố gằng hơn. “Mọi thứ đã không lí tưởng như tôi mong muốn. Tôi chưa gặp ai muốn sống theo phong cách của tôi hồi tôi còn ở Laoshan. Nhiều người dừng lại chỉ sau vài lần thử.” Tang nói.

Người mới đến SLC có mục tiêu riêng của họ. Nhiều người không hướng đến 1 điều không tưởng như thế giới ko còn tư sản, mà chỉ đang chạy trốn tạm thời cuộc sống trung lưu và cố nhận ra thứ mình thực sự mong muốn trong đời.

Fan Yueyi, 20 tuổi, mới tốt nghiệp ĐH, nói rằng cô đến đây vì chán ghét thứ áp lực không ngừng khi leo lên “bậc thang xã hội” (Penthouse SBS). “Thế hệ của tôi có thể dễ dàng thấu hiểu ý niệm đằng sau SLC. Chúng tôi lớn lên và đều có cùng mục tiêu: những điểm A+, đỗ ĐH tốp đầu, chọn 1 nghề hứa hẹn thu nhập cao. Nhưng thứ ảo tưởng đó vỡ tan sau khi tốt nghiệp ĐH, khi tôi nhận ra rằng có nhiều lựa chọn hơn những gì chúng tôi đã được dạy trước đó.

Khi còn thơ bé, Fan mơ ước mở 1 tiệm trà sữa, nhựng mẹ cô bảo rằng, công việc này chỉ phù hợp cho người giàu hoặc kẻ thất học. Vậy nên cô đã theo ý mẹ, tốt nghiệp ĐH, làm giáo viên. Ở nhà trẻ mẫu giáo , cô sốc khi chứng kiến những học trò nhỏ của mình bị dạy dỗ nghiêm khắc về cạnh tranh bởi phụ huynh giống như cô năm xưa. Cô nhớ, 1 đứa bé 6 tuổi nhận quà sinh nhật là 1 quyển SGK lớp 1 từ mẹ bé. Với Fan, đó là dấu hiệu của việc cô cần giải thoát.

Fan Yueyi tốt nghiệp đại học gần đây thư giãn sau khi dành cả ngày để nấu rượu tại SLC, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 2 tháng 12 năm 2020.
Fan Yueyi tốt nghiệp đại học gần đây thư giãn sau khi dành cả ngày để nấu rượu tại SLC, ở vùng nông thôn Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, ngày 2 tháng 12 năm 2020. (Ảnh Shi Yangkun / Sixth Tone)

“Mọi người nên sống những cuộc đời khác biệt.”

– Fan Yueyi, commune member

Từ khi tới SLC tháng trước, cô gái thành thị đã học nuôi gà, trồng hoa, nấu rượu. Cô cũng bớt đắn đo khi phải tự đưa ra quyết định.

Nhưng, chọn sống như vậy cũng phải trả giá. Một vài thành viên SLC kể rằng, gia đình và bạn bè họ coi việc này thật không thể hiểu được, thậm chí là sự phản bội – lãng phí thời gian nhiều năm học hành và học phí đắt đỏ. Theo Tang, anh đánh mất 1 số bạn thân khi kể ra lí do rời bỏ thành phố. “Thật khó cho nhiều người khi phải rời đi đường đời thuận lợi. Từ bỏ các giá trị và quan niệm phổ thông không chỉ là 1 quyết định về kinh tế mà là cả về mặt đạo đức.

Fan thì lại muốn xem con đường này sẽ đưa cô tới đâu. Như 1 vài cư dân khác, cô không rõ mình sẽ trụ lại Phúc Kiến bao lâu nữa, khi tiền tiết kiệm đã dần cạn. Nhưng kể cả khi cô phải rời đi, cô sẽ sớm quay trở lại. “Tôi muốn dành nhiều thời gian suy nghĩ về cách tôi có thể tự chu cấp cho mình khi sống ở đây. Việc quyết định rời đi khi nào là chuyện nhỏ vì tôi biết mình sẽ nhất định quay trở lại và thưởng thức rượu do chính mình làm ra.

————

Nguồn: Sixth Tone

Dịch bởi: Lâm Trần

Văn hóa thế giới

Thư tịch cổ Nag Hammadi, giáo huấn bí mật của Jesus và Ngộ giáo

Việc phát hiện ra những thư tịch cổ Nag Hammadi đã đưa ra nhiều tư liệu mới đánh dấu sự trở lại của Ngộ giáo, làm thay đổi cách nhìn và khai sáng nhiều vấn đề về một phong trào mà kinh sách vốn đã bị đốt gần hết với sự chiến thắng của Cơ Đốc giáo.
456
Thư tịch cổ Nag Hammadi, giáo huấn bí mật của Jesus và Ngộ giáo

Sau khi thế chiến II kết thúc năm 1945, có mấy anh em tá điền rủ nhau đi đào đất gần thành phố Nag Hammadi (Ai Cập) tình cờ phát hiện ra một cái hũ. Mới đầu các tá điền không dám mở lọ, họ sợ có thần đèn bên trong, nhưng sau khi nhớ đến huyền thoại về những kho báu cổ thì lòng tham nổi lên và người anh cả Muhammed đã quyết định đập hộp. Nhưng thay vì ngọc ngà châu báu thì bên trong chỉ có những cuốn sách bọc da cũ, họ không ngờ rằng họ đã tìm thấy một trong những chứng tích khảo cổ quan trọng nhất thế kỷ 20 – những cổ bản của thư viện Nag Hammadi.

Trong suốt hơn 1500 năm, hầu hết tín đồ Cơ Đốc giáo đều cho rằng Kinh Tân Ước là nguồn tư liệu duy nhất về Jesus và những đồ đệ của ngài, đặc biệt là những cuốc sách phúc âm của Matthew, Mark, Luke và John. Tuy nhiên, sự khám phá đột ngột đầy bất ngờ của hơn 50 bản văn cổ từ thế kỷ thứ 4 đã cho thấy rằng những sách phúc âm quen thuộc chỉ là một nhóm nhỏ được chọn lựa trong số nhiều học thuyết từ những thời kỳ đầu của phong chào Cơ Đốc. Giờ đây những sách phúc âm của Thomas, Phillip, Mary, Judas, phúc âm Sự Thật, v.v. đã mở rộng hiểu biết của chúng ta về phong trào Cơ Đốc sơ khai một cách đáng kinh ngạc.

Có một phong trào phát triển song song với Cơ Đốc giáo thời kỳ sơ khai – Ngộ giáo – mặc dù khó mà nói được cái nào xuất hiện trước, nhưng rõ ràng là cả hai phong trào đều ảnh hưởng lẫn nhau. Theo John Dominic Crossan, liệu Ngộ giáo có là một dị giáo Cơ Đốc, hay dị giáo Do Thái, hay là một tôn giáo gốc hợp nhất cả hai một cách mạnh mẽ hay không là điều không rõ ràng, Ngộ giáo đã mượn những yếu tố của Cơ Đốc giáo, cũng những tổng thể Cơ Đốc giáo đã lấy một vài đặc tính thiết yếu của Ngộ giáo, đặc biệt là phúc âm của John có thể dễ dàng được thông qua như một tài liệu tiền Ngộ giáo.

Cuối cùng, Ngộ giáo, hướng tới giải thoát cá nhân bằng tự lực, đã không hình thành một hệ thống có tổ chức thống nhất với nhiều cấp bậc quản lý mạnh mẽ như Cơ Đốc giáo, đã bị coi là dị giáo, bị tấn công mạnh mẽ và chìm dần vào lịch sử. Những tác phẩm của họ bị cấm sau khi Giáo hội xác định những cuốn sách được phép đọc trong hội thánh. Có lẽ những tu sĩ ở Nag Hammadi đã quyết định gửi niềm tin vào tương lai, cất giấu những văn bản của họ để chờ ngày được khám phá.

Thần học Ngộ giáo có những khác biệt căn bản với Cơ Đốc giáo và do đó dẫn đến phương pháp tu tập khác nhau. Chúa trong Kinh Cựu Ước chỉ là một vị thần cấp thấp đã tạo ra thế giới vật chất. Trước đó, vị Chúa thật sự, kẻ không ai cao hơn và là Cha của mọi thứ dường như không thể nhận thức được và không từ ngữ nào diễn tả được, đã sinh ra Providence.

Ở đây không có sự sáng tạo vật chất, mà nó giống như một quá trình tâm lý, Chúa tự nhận thức hình ảnh của mình, và sự nhận thức đó trở thành một thực thể riêng biệt. Providence xin Chúa và tạo ra những thực thể tư tưởng khác: Foreknowledge, Incorruptibility, Life Everlasting, và Truth tạo thành tầng tồn tại đầu tiên.

Các thế hệ tiếp theo tiếp tục được sinh ra đều có sự nhận thức của Chúa, tạo ra những tầng tồn tại khác nhau. Tầng thứ hai có Christ. Tầng thứ 3 có một “con người hoàn hảo” Adamas. Đến khi Sophia (Wisdom) “nghĩ cho bản thân” và thực hiện sự sinh sản thiếu sự đồng ý từ Chúa và hỗ trợ từ bạn tình.

Cô sinh ra Yaldabaoth (tương đồng với Chúa trong Kinh Cựu Ước Yahweh) và đẩy hắn đi xa khỏi cảnh giới của mình (tầng thấp hơn), giấu hắn trong những đám mây để không ai nhìn thấy hắn và hắn cũng không thể thấy ai. Lần đầu tiên có sự xuất hiện của vật chất và một thực thể có hình dạng (Yaldabaoth mình rắn đầu sư tử).

Được thừa hưởng sức mạnh từ Sophia, Yaldabaoth cũng có thể sáng tạo (sinh sản) bằng tưởng tượng, hiện thực hóa suy nghĩ. Do tự tạo được một vũ trụ riêng cho mình mà thiếu sự hiểu biết về những cảnh giới cao hơn, Yaldabaoth nghĩ mình là vị Chúa duy nhất. Yaldabaoth tạo ra thế giới vật chất tiếp nối bằng những sự kiện gần giống như trong Kinh Cựu Ước (tạo ra con người, vười Eden, con rắn ở đây không phải kẻ xấu mà đã nói sự thật v.v…) với một góc nhìn khác. Adam được tạo ra nhưng bất động, và Yaldabaoth đã bị lừa để thổi thần tính vốn thuộc sở hữu của cảnh giới cao hơn vào Adam khiến Adam có sự sống.

Nhận ra mình bị lừa, Yaldabaoth tạo ra mọi thứ cám dỗ và mê muội đồng thời cho con người uống nước quên lãng để đi bản chất thần thánh trong mình và hiểu biết về vị Chúa thực sự, để có thể cầm tù họ (cũng là giữ lại thần tính không cho trở về với Chúa tối cao) trong thế giới vật chất hết kiếp này qua kiếp khác. Jesus Christ chính là được cảnh giới trên gửi xuống để truyền cho nhân loại những giáo lý bí mật giúp con người nhớ lại vị Chúa tối cao và bản chất thần thánh của mình, nhờ đó mà có thể thoát khỏi ngục tù của sự ngu dốt và quay về với Chúa.

Như vậy con người được tạo ra gián tiếp từ một “lỗi” của một đối tượng tinh thần của Chúa, hay nói cách khác Chúa có vấn đề tâm lý (mất kiểm soát sự khôn ngoan (Sophia-Wisdom)) dẫn đến hậu quả là xuất hiện thế giới vật chất và chúng ta bị cầm tù trong đó.

Ngộ giáo do đó hướng con người đến giác ngộ qua sự hiểu biết, tự mình tìm kiếm tri thức không qua cầu xin, thoát khỏi tăm tối ngu dốt, hiểu được bản chất xấu xa của thế giới vật chất được tạo nên như một nhà tù bởi Yaldabaoth, là một góc nhìn và hướng đi khác với Cơ Đốc giáo. Những giáo huấn thật sự của Jesus là những giáo huấn mang tính bí mật, bí truyền, bởi vì có những lời dạy cần được ngụy trang để đánh lừa những cai ngục xấu xa (Yaldabaoth và đội ngũ “thiên thần“).

————————

Sách tham khảo:

The Nag Hammadi Scriptures

Gnosticism: The History and Legacy of the Mysterious

The Secret Book of John: The Gnostic Gospel – Annotated & Explained

Mai Dạ Phúc Ca

Lịch sử Việt Nam

Đảng Đại Việt, CIA và cuộc chiến bí mật ở miền Bắc Việt Nam

Đây là "chương I: Con ngựa thành Troia" trong cuốn sách "Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam" nói về về hoạt động của tình báo Mỹ đối với Miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến 1964. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
782
Đảng Đại Việt, CIA và cuộc chiến bí mật ở miền Bắc Việt Nam

Cuộc chiến tranh diễn ra không thuận lợi đối với nước Pháp. Vào đầu năm 1952, những người cộng sản Việt Nam (Việt Minh) đã làm chủ phần lớn vùng núi phía Bắc, giáp biên giới với Trung Quốc, giúp họ có khả năng dễ dàng tấn công xuống vựa lúa ở Bắc Việt Nam, khu vực châu thổ sông Hồng phì nhiêu.

Tâm lý vỡ mộng đang tăng lên trong nước làm Pháp càng khó khăn hơn. Hy vọng giành một chiến thắng nhanh chóng, các lực lượng của Pháp đã hành quân, tiến vào các vị trí xung quanh Hòa Bình, một tỉnh lỵ nằm ở phía Tây Hà Nội, nhằm cắt đứt con đường tiếp tế then chốt của Việt Minh, đi từ phía Đông về vùng đồng bằng

Việt Minh đã đáp trả lại bằng việc tập trung ba sư đoàn bộ binh, với tổng cộng khoảng 25 nghìn quân. Bị bất ngờ và áp đảo, quân Pháp bắt đầu từ từ rút lui về các khu vực an toàn ở châu thổ sông Hồng, cho nổ tung, phá hủy bất cứ thứ gì có thể sử dụng được như là một cử chỉ tạm biệt. Vào tuần thứ hai của tháng ba, Hòa Bình đã bị bỏ rơi.

Báo cáo của CIA ngày 13/10/1950 cảnh báo về những hậu quả đối với nước Mỹ nếu Đông Nam Á “rơi vào tay cộng sản”
Báo cáo của CIA ngày 13/10/1950 cảnh báo về những hậu quả đối với nước Mỹ nếu Đông Nam Á “rơi vào tay cộng sản”

Trong khi đó, bên kia trái đất ở Washington, chính quyền Tổng thống Truman lo lắng trước việc vị thế của Pháp ở Đông Dương đang bị xói mòn. Việc mất bất kỳ một quốc gia nào ở Đông Nam Á vào tay cộng sản cũng sẽ gây ra những hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế to lớn đối với lợi ích của Mỹ. Mặc dù tình hình nghiêm trọng, song Harry Truman chẳng có mấy lựa chọn. Nước Mỹ đã cung cấp phần lớn trang thiết bị quân sự Pháp dùng ở Đông Dương và trong khi các lực lượng của Mỹ đang mắc kẹt ở Triều Tiên, việc dính líu nhiều hơn nữa vào một cuộc xung đột thứ hai ở Châu Á là điều không thể về mặt chính trị.

Nhưng có một lựa chọn khác, đó là các hoạt động bí mật. Đối với Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đã được thành lập năm năm nay, thì đây là một cơ hội hấp dẫn để đặt chân vào Đông Dương. Kết hợp giữa thái độ vừa lạc quan và vừa ngây thơ nổi lên trong những ngày đầu, CIA đã chọn một trong những sĩ quan trẻ của mình, Donald Gregg, và trao cho anh ta một nhiệm vụ táo bạo: Huấn luyện một nhóm người Việt về chiến thuật hoạt động theo quy mô đơn vị nhỏ và chuẩn bị cùng họ nhảy dù xuống khu vực nông thôn ở Bắc Việt Nam.

Vừa mới được đào tạo hoạt động bán quân sự và chưa từng phục vụ ở nước ngoài, Gregg đồng ý ngay. Bay sang Thái Lan, anh ta chọn mười người Việt Nam và đưa họ đến một cơ sở của CIA ở căn cứ hải quân của Mỹ ở Yokosuka, Nhật Bản để tiến hành huấn luyện cơ bản trong một tháng.

Có hai vấn đề nổi lên ngay lập tức. Thứ nhất, Gregg thấy hầu như không ai nghĩ gì về việc anh ta cùng những người được huấn luyện cần phải làm gì, một khi họ quay trở lại vùng nông thôn Việt Nam. Thứ hai, một vấn đề đáng lo ngại hơn, Gregg thấy hiểu biết về Việt Nam của anh ta cũng không hơn những người được anh ta huấn luyện.

Tất cả mười người này được tuyển mộ ở Thái Lan thông qua một đặc vụ và người này nói rằng họ nằm trong số năm mươi ngàn người Việt đã chạy sang Thái Lan ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Nhưng Gregg phát hiện ra rằng thực ra họ là những người di cư khỏi Việt Nam từ cách đó hơn 150 năm. Ngay cả CIA, một cơ quan luôn có thái độ lạc quan, cũng không thể nào lại thực hiện một hoạt động chỉ dựa trên một kế hoạch sơ sài như vậy. Gregg nhớ lại: “Sau đó, những người Việt này đã được chuyển về Thái Lan vào tháng Tư, tôi cảm thấy mình như thọ thêm được mấy năm”.

Bắt đầu sự nghiệp tại CIA vào năm 1951 khi mới 24 tuổi, Donald Gregg sau đó đã nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau như cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cố vấn cho Phó Tổng thống George H. W. Bush, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc
Bắt đầu sự nghiệp tại CIA vào năm 1951 khi mới 24 tuổi, Donald Gregg sau đó đã nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau như cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cố vấn cho Phó Tổng thống George H. W. Bush, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc

Hai năm sau, CIA lại lần nữa chơi đùa với ý tưởng tiến hành các hoạt động bán quân sự bí mật ở Đông Dương. Lúc đó, quân đội của Việt Minh, bao gồm lực lượng chính quy và dân quân địa phương, đã lên tới hơn 350.000 người. Tuy việc rút khỏi Đông Dương chỉ là vấn đề thời gian, nhưng Pháp vẫn chỉ chấp nhận trang thiết bị và tiền bạc do Mỹ cung cấp, từ chối cố vấn của quân đội hoặc của CIA.

Tổng thống D. D. Eisenhower không ưa phương hướng hành động mà Pháp đang thực thi ở Việt Nam. Trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) ngày 21 tháng 1 năm 1954, ông ta nhấn mạnh không để cho Đông Dương rơi vào tay cộng sản và yêu cầu các cố vấn đề xuất các biện pháp để củng cố vị thế của Pháp. Ngoài giúp đỡ về vật chất, ông đặc biệt quan tâm đến khả năng tiến hành chương trình chiến tranh du kích, một chương trình có thể được tiếp tục sau khi Pháp có khả năng sẽ rút đi.

Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower (1890-1969)
Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower (1890-1969)

Đáp lại Tổng thống, Giám đốc CIA, Allen Dulles, đã phát biểu tại Hội đồng An ninh Quốc gia rằng ông ta có các chuyên gia bán quân sự sẵn sàng đến Đông Nam Á, nhưng người Pháp đã ngoan cố từ chối không cho phép. Dulles nhận xét, chiến tranh du kích là một quá trình lâu dài, đòi hỏi có sự chuẩn bị đầy đủ. Trong khi không còn đủ thời gian, ông gợi ý biện pháp đánh đổi cứng rắn với Pháp: Mỹ tiếp tục cung cấp trang thiết bị quân sự, đổi lại Pháp phải đồng ý cho Mỹ đưa nhân viên bán quân sự của CIA vào. Tổng thống Eisenhower đã đồng ý.

Giám đốc CIA Allen Dulles
Giám đốc CIA Allen Dulles

Tám ngày sau, các cố vấn hàng đầu của ông đã được triệu tập để tiếp tục họp. Tiếp tục chủ đề mà Eisenhower đã bỏ dở, Giám đốc CIA Dulles đã giới thiệu Edward Lansdale với những người tham gia cuộc họp và gợi ý cử ông ta là người đầu tiên đến Việt Nam. Vốn là một đại tá Không quân Mỹ được biệt phái sang làm việc lâu dài ở CIA, Lansdale nổi tiếng là một trong những chuyên gia hàng đầu về các hoạt động du kích và bán quân sự.

Ông đã để lại dấu ấn của mình ở Đông Nam Á khi làm việc với tư cách cố vấn cao cấp cho Tổng thống Philippines, Ramon Magsaysay. Ông đã giúp đánh bại phong trào phiến quân cộng sản Hukbalahap và điều đó làm cho Dulles và người anh của ông ta, Bộ trưởng Ngoại giao John Foster, rất có ấn tượng. Hội đồng An ninh Quốc gia đã yêu cầu ông chuẩn bị va li lên đường sang Việt Nam.

Trước khi Lansdale lên đường, cuộc chiến tranh Đông Dương đã bước vào giai đoạn cuối. Lực lượng của Pháp ở thung lũng Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc Việt Nam, vốn đã bị bao vây từ cuối năm trước, đang nhanh chóng trở thành chỗ dựa cuối cùng của Pháp.

Trong khi lực lượng Việt Minh đang thít chặt thòng lọng xung quanh Điện Biên Phủ, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã nâng cấp nhóm cố vấn một người của Lansdale lên thành một phái đoàn thuộc CIA được biết tới với cái tên “Phái đoàn Quân sự Sài Gòn“(SMM). Phái đoàn này không làm việc với người Pháp mà sẽ làm việc với chính phủ chống cộng và mang danh nghĩa độc lập của Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại, một nhân vật bù nhìn do Paris dựng lên, đứng đầu.

Trước khi các thành viên của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn có cơ hội đặt chân lên đất Việt Nam, Điện Biên Phủ đã rơi vào tay Việt Minh vào đầu tháng Năm. Tổng thống Eisenhower đặc biệt không thích cách Pháp cai trị các thuộc địa Đông Dương, nhưng ông lại càng không thích ý tưởng về một chế độ Việt Minh. Trong khi các binh lính Pháp bị dẫn giải như những tù binh ra khỏi Điện Biên Phủ, ông ta đã cân nhắc đến khả năng tiến hành một chiến dịch hoạt động du kích lớn ở Bắc Việt Nam được hỗ trợ thông qua Thái Lan.

Tuy nhiên, tình thế mau chóng cho thấy rõ ràng là không có đủ thời gian cho những kế hoạch vĩ đại. Ở Geneva, một hội nghị quốc tế đang thương lượng vấn đề Pháp rút khỏi Đông Dương. Lo lắng về khả năng Pháp sẽ bán đứng mọi thứ, Lansdale lập tức lao đến Sài Gòn, trong khi hội nghị Geneva vẫn đang họp. Đến đó vào ngày 1 tháng Sáu, về danh nghĩa ông ta được cử làm một trợ lý tùy viên không quân tại Sứ quán Mỹ.

Edward Lansdale
Edward Lansdale

Không có đủ thời gian để tập hợp thêm các thành viên của Phái đoàn quân sự Sài Gòn, vì vậy Lansdale trong tháng đầu tiên đã cố tạo dựng các mối quan hệ với lực lượng vũ trang của Bảo Đại và làm việc với Đại đội Vũ trang Chiến tranh Tâm lý (Armed Psychological Warfare Company) ở Hà Nội.

Nhưng ông ta đã không có được thành công trọn vẹn: dưới sự chỉ đạo của Lansdale, trong phi vụ đầu tiên của đại đội này, hai thành viên trong nhóm đã chạy sang hàng ngũ cộng sản.

Ngày 1 tháng Bảy, Lansdale có thêm một cấp phó, Thiếu tá Lucien “Lou” Conein. Là một chuyên gia tự thân trong lĩnh vực bán quân sự, Conein đã từng thành công với những phi vụ như vậy. Được những người cùng hoạt động gắn danh là “Black Luigi – Luigi Đen”, Conein đã từng thâm nhập vào Bắc Việt Nam cách đây chín năm, khi còn làm việc trong Cơ quan Tình báo Chiến lược (Office of Strategic Services – OSS), tổ chức tiền thân của CIA trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Không giống các sĩ quan OSS khác, những người đã cùng làm việc với Việt Minh để chống lại người Nhật, Conein đã liên hệ với những tổ chức bí mật của người Việt Nam do người Pháp lãnh đạo. Một số người này giờ đây đã trở thành các sĩ quan quân sự cao cấp của Việt Nam và đây là lợi thế của Conein.

Thiếu tá Lucien “Lou” Conein
Thiếu tá Lucien “Lou” Conein

Trong ba tuần sau đó, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn chỉ gồm có hai thành viên tiếp tục xây dựng các mối liên hệ với người Việt Nam. Ngày 21 tháng Bảy, hội nghị Geneva kết thúc. Theo giải pháp này, sẽ có một khoảng thời gian đình chiến 300 ngày, trong thời gian đó dân thường được tự do đi lại. Sau đó, đất nước sẽ tạm thời bị chia làm hai miền: toàn bộ lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17 sẽ được trao cho Việt Minh, trong khi đó toàn bộ vùng đất phía nam vĩ tuyến đó, sẽ do chế độ Bảo Đại thân phương Tây do người Pháp lập ra trước đó cai quản.

Thủ đô của Bắc Việt Nam do Việt Minh kiểm soát là Hà Nội, trong khi Nam Việt Nam lại do Bảo Đại điều hành từ Sài Gòn. Về mặt lý thuyết, sau hai năm sẽ có một cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào năm 1956 để thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, từ sau ngày 11 tháng Tám, số nhân viên quân sự nước ngoài sẽ đóng băng.

Chính quyền của Tổng thống Eisenhower coi giải pháp Geneva là một thảm họa và ngay lập tức thay đổi nhiệm vụ của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Với việc Bắc Việt Nam sẽ sớm nằm dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của cộng sản, nhiệm vụ chính của Lansdale bây giờ là tổ chức các hoạt động kháng chiến bên kia chiến tuyến.

Để làm việc đó, CIA có thể sử dụng một tiền lệ. Ở Tây Âu, CIA đã đặt nền móng cho việc xây dựng một mạng lưới du kích bí mật trước khi Liên Xô có thể xâm lược. Ở Châu Á cũng vậy, CIA cũng đã nuôi dưỡng một đơn vị cảnh sát tinh nhuệ Thái Lan để tiến hành cuộc kháng chiến chống lại nguy cơ Trung Quốc tiến xuống phía nam. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, các mạng lưới ở sau chiến tuyến chưa bao giờ được thử thách.

Trong việc thành lập một mạng lưới của người Việt, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Đại Việt, một phong trào bí mật có tư tưởng dân tộc cực đoan được thành lập vào năm 1939. Đại Việt, có nghĩa là nước Việt Nam vĩ đại, được sinh ra từ phong trào chống lại ách cai trị thực dân Pháp. Từ đó, đã hình thành một liên minh ngắn ngủi với những người có tư tưởng dân tộc trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, gồm cả Việt Minh.

Sau chiến tranh, ban lãnh đạo Đại Việt chạy sang Trung Quốc. Quay trở lại Việt Nam vào năm 1947, phong trào này hạ giọng chống Pháp, cố gắng vứt bỏ hình ảnh tinh hoa của mình nhằm lôi kéo quần chúng. Đại Việt cũng bắt đầu tập trung đến mối đe dọa của Việt Minh. Năm 1951, Đại Việt bắt đầu có những hành động vũ trang chống lại những người cộng sản, thành lập lực lượng dân vệ bán vũ trang ở Miền Bắc liên minh lỏng lẻo với Pháp. Tháng 12 năm 1953, lực lượng dân vệ này đã lên tới khoảng 17.000 người.

Hiệp định Geneva báo hiệu cơ sở quyền lực của Đại Việt ở Miền Bắc đã chấm dứt, vì vậy Lansdale cho rằng một kế hoạch nằm vùng sẽ là điều hấp dẫn với Đại Việt. Thông qua những đầu mối tiếp xúc do tình báo Pháp cung cấp, tháng Bảy năm 1954, Lansdale đã ra Hà Nội để thăm dò Đại Việt.

Tại Hà Nội, ông đã gặp Phan Huy Quát, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, một trong hai quan chức cấp cao của Đại Việt giữ cương vị bộ trưởng trong chính phủ Bảo Đại. Sau khi nghe vị đại tá Mỹ trình bày, ông Quát đã gợi ý ông ta nên gặp một nhân vật Đại Việt nữa, đồng thời là người có họ hàng thông qua quan hệ hôn nhân, Bác sĩ Đặng Văn Sung.

Phan Huy Quát
Phan Huy Quát

Ông Sung, Tổng bí thư không chính thức của Đại Việt, sinh ra trong một gia đình địa chủ giàu có ở Nghệ An. Thông minh, lịch lãm và nghiêm nghị, ông có bằng bác sĩ y khoa, nhưng thay vì làm bác sĩ, ông gia nhập Đại Việt vào năm 1940 và nhanh chóng trở thành một trong những lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Đại Việt.

Sau các cuộc tấn công của Việt Minh chống lại phong trào này sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, ông có một thời gian ngắn sống lưu vong ở Trung Quốc và trở về Việt Nam vào năm 1947 để đóng một vai trò quan trọng trong các tờ báo và tổ chức thanh niên của Đại Việt. Là một trong những người đầu tiên trong Đảng Đại Việt đề xướng hợp tác với Hoàng đế Bảo Đại, Sung là người công khai lớn tiếng phản đối Hiệp định Geneva, đặc biệt là điều khoản chia cắt Việt Nam.

Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội
Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội

Đi cùng với Quát, Lansdale tới trụ sở của Đại Việt tại Hà Nội. “Lansdale đã đề xuất kế hoạch xây dựng một tổ chức nằm vùng ở miền Bắc và chúng tôi đã nói chuyện với nhau trong hai ngày”, Quát nhớ lại. “Ông ta đã chỉ ra cho chúng tôi thấy Đại Việt vẫn chỉ là đảng của một nhóm hành động và đảng của trí thức chứ không phải một đảng quần chúng. Ông ta đưa ra một thách thức: nếu chúng tôi chứng minh được rằng chúng tôi có thể làm việc với quần chúng, ông ta sẽ ủng hộ một mạng lưới nằm vùng ở Miền Bắc. Tôi đã nắm lấy cơ hội đó để chứng minh khả năng của mình”.

Lansdale trở lại Sài Gòn, gặp thêm mười sĩ quan CIA, tất cả đều là các chuyên gia hoạt động tình báo bí mật bán quân sự. Những người này đã nhanh chóng được phái từ Nhật Bản, Triều Tiên và Okinawa tới để trợ lực cho Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trước thời hạn 11 tháng 8 như quy định trong Hiệp định Geneva.

Điều này làm cho Việt Nam trở thành nước duy nhất có hai trạm CIA hoạt động cùng một lúc: Một cơ quan với người đứng đầu chỉ tập trung vào các hoạt động gián điệp thông thường và Phái đoàn Quân sự Sài Gòn do Lansdale đứng đầu, phụ trách các hoạt động bán quân sự. Trong khi trưởng trạm và gián điệp của CIA hoạt động dưới vỏ ngụy trang là cán bộ ngoại giao trong sứ quán, Lansdale và nhân viên của ông lại có chỗ làm việc trong Nhóm Cố vấn và Viện trợ Quân sự ở Đông Dương (MAAG) có trụ sở ở Sài Gòn và trực thuộc Lầu Năm Góc từ trước vẫn cung cấp viện trợ quân sự cho Pháp.

Với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã đầy đủ lực lượng, Lansdale giao cho Conein làm việc với Sung về một chương trình chi tiết liên quan đến hoạt động nằm vùng của Đại Việt. Vừa hết hạn làm việc ở Tây Đức để đưa một số điệp viên thâm nhập qua Bức màn sắt, Conein hiểu biết đầy đủ về việc xây dựng mạng lưới gián điệp. Trên danh nghĩa, phân đội của ông được cử đến MAAG giám sát gần một triệu người tỵ nan dự kiến sẽ vào Nam trong giai đoạn 300 ngày ân hạn theo quy định của Hiệp định Geneva. Do đó, ông dễ có lý do để đi lại giữa Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Nhiệm vụ này không hề dễ dàng. Đặc vụ của Việt Minh đã bắt đầu bí mật kiểm soát Hà Nội. Chạy đua với thời gian, Sung đã chọn Cao Xuân Tuyên, một sĩ quan cao cấp của Đại Việt và là một đại úy trong quân đội của Bảo Đại để bắt đầu tuyển mộ người. Người đầu tiên mà Tuyên tuyển mộ là Trần Minh Châu.

Là một tín đồ đạo Thiên chúa, quê ở thành phố Nam Định, ông đã tham gia Việt Minh vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Làm đến chủ tịch xã, ông ta đã lãnh đạo dân quân du kích ở địa phương chống lại Pháp cho đến khi bị bắt vào năm 1949. Ở trong tù, ông ta đã ly khai với cộng sản và cùng với nhiều người Nam Định theo đạo Thiên Chúa nghiêng về phía Đại Việt và cuối cùng đã gia nhập đảng này.

Đối tượng tuyển mộ tiếp theo của ông ta là Nguyễn Kim Xuyến. Cũng là một tín đồ đạo Thiên Chúa quê ở Nam Định, Xuyến là người rất bảo thủ và là một nhà báo viết chuyên mục trong một tờ báo của Đại Việt. Có hai người để bắt đầu xây dựng một nhóm nằm vùng là một khởi đầu tốt. Tuyên chỉ có đến cuối tháng Tám để tuyển mộ thêm mười tám người. Ông đã không làm được, đến cuối tháng đó, ông ta chỉ tuyển được mười bốn người trong Đảng Đại Việt.

Được đặt mật danh là “nhóm Binh”, tổng số mười sáu người của Đại Việt đã được tập hợp cho Conein. Theo kế hoạch của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn, giúp đỡ của CIA cho nhóm Binh chỉ mang tính chất tạm thời, với dự định quyền kiểm soát nhóm này về sau sẽ giao lại cho chính phủ Bảo Đại ở Sài Gòn.

Những điều kiện này đã được ban lãnh đạo Đại Việt chấp nhận. Nhóm mười sáu người này đã được ô tô đưa xuống Hải Phòng vào đầu tháng Chín, sau đó bí mật lên một tàu chiến của Mỹ và được đưa tới Okinawa. Trải qua một tháng thử thách về tâm lý và thể chất, tháng Mười năm đó, nhóm này tập hợp lại và được đưa tới một trung tâm huấn luyện trị giá 28 triệu đô la của CIA ở Saipan.

Dù đã bước vào năm hoạt động thứ tư, song căn cứ Saipan lại được đặt tên nghe có vẻ vô hại là Đơn vị Huấn luyện Kỹ thuật Hải quân và đây là trung tâm huấn luyện đầu tiên của CIA ở Viễn Đông. Trước đây, căn cứ này đã từng huấn luyện cho Triều Tiên, Đài Loan và Thái Lan, với nhiều lớp học tách biệt dành cho học viên nước ngoài. Một trong các sĩ quan so sánh Saipan với căn cứ huấn luyện chính của CIA ở Williamsburg, Virginia: “Các cơ sở ở Saipan thực sự đầy đủ, giống như Fort Peary thu nhỏ”.

Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương)
Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương)

Tại Saipan, nhóm Đại Việt được tuyển mộ này giảm xuống còn 12 người. Họ tiếp tục được huấn luyện và đặt mật danh tiếng Anh và tiếng Pháp. Được bốn cố vấn Mỹ hướng dẫn, họ được giảng về những vấn đề cơ bản trong hoạt động bán vũ trang và nghiệp vụ điệp viên. Không phải là thu xếp hoàn hảo, chương trình giảng dạy được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp và sau đó được một trong các học viên dịch lại sang tiếng Việt.

Sau khi chương trình kèm cặp cơ bản này kết thúc, những người được tuyển mộ sẽ chia thành ba nhóm nhỏ. Nhóm thứ nhất, trong đó có Trần Minh Châu, giờ có biệt hiệu là Leslie, và ba người khác, được đào tạo về vũ khí, chất nổ và hoạt động phá hoại. Nhóm thứ hai, tổng cộng có năm người, được huấn luyện khá kỹ về hoạt động gián điệp. Nhóm thứ ba gồm ba người được huấn luyện chuyên về thông tin liên lạc.

Khóa huấn luyện ở Saipan dự kiến kéo dài sáu tháng, nhưng CIA đã quyết định nếu nhóm của Binh ở lại theo hết chương trình thì sẽ không đủ thời gian để thâm nhập, trước khi Việt Minh nắm quyền kiểm soát toàn bộ Bắc Việt Nam. Vì vậy, chỉ sau bốn tháng, ba nhóm đã tập hợp lại và được một chuyên gia phát hiện nói dối của CIA kiểm tra lần cuối. Đóng giả là một sĩ quan cảnh sát của Việt Minh, ông ta đã giả vờ tiến hành hỏi cung các điệp viên. Một điệp viên bị loại khi người đó bị lộ tẩy là chỉ điểm cho Pháp. Sau này, các sĩ quan CIA được thông báo là người đó khi trở về Sài Gòn đã bị chặt đầu.

Có một điều mà nhóm Binh không biết, đó là họ không phải là những người Việt duy nhất ở Saipan. Hồi tháng Chín, một mạng lưới nằm vùng thứ hai cũng được hình thành ở Sài Gòn, do Phái đoàn Quân sự Sài Gòn bảo trợ. Được gọi là nhóm “Hao”, những điệp viên này được tuyển mộ từ Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ).

Được thành lập năm 1927 như một bộ phận của Quốc Dân Đảng (Koumintang) ở Trung Quốc, VNQDĐ ban đầu khá nổi bật trong những người có tư tưởng dân tộc sau khi lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống thực dân vào năm 1930. Bị Pháp đàn áp dã man, những người lãnh đạo cuộc nổi dậy buộc phải chạy sang Trung Quốc, sống lưu vong cho đến sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Sau khi trở về Việt Nam, lực lượng của họ bị Việt Minh tiêu diệt và chỉ còn là cái bóng của chính mình trong những năm đầu 1950. Tuy nhiên, vào cuối năm 1954, đảng này vẫn có những đảng viên tình nguyện tham gia các khóa huấn luyện gián điệp. Được Lansdale giúp đỡ, lãnh đạo đảng đã tuyển mộ được 21 người để đưa sang huấn luyện tại Saipan.

Trong khi các điệp viên nằm vùng đang được huấn luyện ở nước ngoài, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn lại bận rộn với các dự án khác. Vào lúc chế độ cộng sản đang có những chuẩn bị cuối cùng để tiếp quản chính thức Hà Nội vào ngày 11 tháng Mười, Lansdale lại dành nhiều thời gian để tiến hành một chiến dịch tâm lý nhằm khuấy động thái độ bất mãn với những người cai trị mới, ngay từ trước khi họ ổn định công việc.

Trong khi có rất nhiều người tỵ nạn rời bỏ quê hương của họ ở Miền Bắc để chạy vào Miền Nam trong thời gian đình chiến quy định trong Hiệp định Geneva, Lansdale đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo đảm dòng người tỵ nạn này càng nhiều. Sử dụng biện pháp tuyên truyền để thuyết phục người dân rằng cuộc sống ở Miền Nam tốt đẹp hơn, Lansdale cũng reo rắc tin đồn rằng người Trung Quốc, vốn từ bao đời nay đã bị người Việt không ưa, dù cho họ ở cùng trong một liên minh cộng sản, hiện có kế hoạch sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc quản lý đất nước Việt Nam.

Tin đồn cũng nói rằng nhiều người Việt sẽ bị đưa sang Trung Quốc để làm công nhân đường sắt. Lansdale cũng lợi dụng nỗi lo sợ của những tín đồ đạo Thiên Chúa đối với những người cộng sản vô thần, in truyền đơn trong đó nói rằng “Đức Mẹ Đồng trinh đang đi vào Nam” và hứa hẹn sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn cho các tín đồ đạo Thiên Chúa ở Miền Nam. Những câu chuyện thêu dệt về tội ác của cộng sản cũng giúp làm tăng thái độ bất bình.

Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov)

Cú đánh tuyên truyền táo bạo và thành công nhất của Lansdale được tiến hành khi nhân viên của ông phân phát các truyền đơn với chữ ký của các quan chức Việt Minh chỉ thị cho người dân phải hành xử như thế nào khi cộng sản tiếp quản Hà Nội vào tháng Mười, gián tiếp nói đến việc tái phân phối tài sản cá nhân và cải cách hệ thống tiền tệ. Theo Lansdale, chiến dịch này đã thành công lớn.

Ông ta viết: “Một ngày sau khi những truyền đơn này được phân phát, số người đăng ký xin di cư đã tăng gấp ba lần… Hai ngày sau, giá trị đồng tiền của Việt Minh giảm một nửa so với trước khi có các truyền đơn.Việt Minh đã sử dụng đài phát thanh để tố cáo những truyền đơn này. Những tờ truyền đơn, về hình thức, trông giống thật đến nỗi phần lớn cán bộ cấp dưới lại tin rằng những lời tố cáo trên đài phát thanh là một âm mưu của người Pháp”.

Thậm chí người Pháp cũng bị đánh lừa. Họ đã bắt giam một thành viên trong các nhóm người Việt thuộc quyền của Lansdale trong khi anh ta đang phân phát truyền đơn vào buổi tối và buộc tội anh ta là điệp viên của Việt Minh.

Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk)
Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk)

Trong tuần đầu tháng Mười, phân đội của Conein ở phía Bắc chuẩn bị rời Hà Nội ngay trước khi lực lượng Việt Minh tiến vào. Những ngày cuối cùng, họ tập trung tiến hành các hoạt động phá hoại âm thầm trong thành phố. Điệp viên đã lẻn vào một xưởng xe buýt để gây nhiễm bẩn các thùng chứa xăng dầu và bí mật chuyển các gói thuốc nổ giống như những viên than do một nhóm kỹ thuật viên của CIA chế tạo vào các điểm cung cấp nhiên liệu tại nhà máy xe lửa của thành phố. Cả hai phi vụ trên đều có những lúc khá hài hước. Conein hồi tưởng:

Các chất gây nhiễm bẩn xăng dầu được đóng trong hộp tròn chuyển từ Nhật Bản về. Khi chúng tôi mở ra, mùi của nó suýt làm chúng tôi ngất xỉu trong khi chúng tôi đang ở trong trạm xe buýt, nhưng chúng tôi đã trấn tĩnh lại để đổ các chất này vào trong các thùng xăng dầu và sau đó rời đi. Các viên than chứa chất nổ cũng được chuyển từ Nhật Bản tới. Ý định là đặt những viên than đó tại các nơi bốc dỡ hàng và chờ tiếng nổ lớn. Chúng tôi sợ sẽ có ai đó đi ngang qua, ăn cắp những viên than mang về nhà để đun nấu, rồi bị nổ tung. Sau này, chúng tôi nghe nói những viên than chứa chất nổ đã làm nổ tung một số đầu máy xe lửa”.

Thực hiện xong các hoạt động phá hoại, Conein và người của ông ta chuyển xuống Hải Phòng để tìm địa điểm bí mật cất giấu vũ khí và trang thiết bị dành cho nhóm Binh (cho đến tận tháng Năm năm 1955, thành phố này mới được chuyển giao cho Việt Minh). Tháng Giêng năm 1955, đồ tiếp tế được máy bay của hãng Vận tải Hàng không Dân dụng (Civil Air Transport), thuộc sở hữu của CIA, chuyển từ Sài Gòn ra và các nhóm này bắt đầu hoạt động.

Súng đạn được cất giấu dưới nền các ngôi nhà, những đồ tiếp tế khác được đưa đến các nghĩa trang và chôn trong các đám tang giả dưới sự chỉ đạo của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Cho đến cuối tháng, mọi thứ đã được chôn giấu xong.

Ngày 8 tháng Hai, điệp viên trong nhóm Binh đã vượt qua các buổi kiểm tra phát hiện nói dối và được đưa trở lại Sài Gòn. Tại Sài Gòn, họ trải qua một tháng học tập chính trị, trước khi thâm nhập Miền Bắc. Theo kế hoạch, 12 điệp viên sẽ được chia về ba địa điểm. Leslie, được phong cấp trung úy, sẽ chỉ huy chung. Anh ta và năm điệp viên khác sẽ hoạt động ở Hà Nội, ba người nữa hoạt động ở Hải Phòng và ba người cuối cùng sẽ hoạt động ở Nam Định.

Vào đầu tháng Ba, cả 12 điệp viên được tàu biển đưa ra Hải Phòng. Tại đó, Conein thông báo ngắn gọn về tình hình và trao cho họ các giấy tờ tùy thân giả. Công việc và chỗ ở mới cũng đã được Phái đoàn Quân sự Sài Gòn thu xếp. Phần lớn họ sẽ giả làm ngư dân. Đến cuối tháng đó, họ đã thâm nhập thành công vào đời sống xã hội ở Miền Bắc. Như vậy, mạng lưới của nhóm Binh đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định.

Việc thâm nhập của nhóm Hao, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, là một hoạt động với tham vọng lớn hơn nhiều. Khoảng tám tấn rưỡi hàng tiếp viện, gồm 14 điện đài, 300 súng các-bin, 50 súng ngắn và hơn 130 kilogam chất nổ, đã lặng lẽ được đưa vào miền bắc bằng máy bay hoặc tàu thủy trong khoảng thời gian từ tháng Hai đến tháng Ba. Phần lớn đồ tiếp tế này được cất giấu ở các địa điểm dọc sông Hồng. Phần còn lại được cất giấu dưới các nền nhà ở Hải Phòng.

Số hàng tiếp viện khác được chuyển giao cho mạng lưới của Quốc Dân Đảng. Bùi Văn Ninh, một đảng viên của đảng này và là sĩ quan thuộc Cơ quan Thông tin của Chính phủ Bảo Đại là một trong số những người được huy động để cất giấu đồ tiếp tế:

Một giáo sư luật, người đã từng giảng dạy ở Đại học Hà Nội, một người mà tôi đã quen biết trong một thời gian, đã nhờ tôi giấu hai điện đài do người Mỹ cung cấp. Các điện đài này được đóng trong những thùng lớn. Tôi đã đào một hố sâu tới hai mét trong nhà tôi ở đường Sơn Lâm, Hải Phòng và giấu một chiếc ở đó. Tôi mang chiếc thứ hai đến nhà một người thân, cách đó hai cây số và chôn trong một cái hố cũng sâu hai mét”.

Trong tháng Tư, các thành viên của nhóm Hao kết thúc khóa học ở Saipan và được đưa đến căn cứ không quân Clark ở Philippines để nghe thông báo tình hình lần cuối. Sau đó, họ lên một tàu chiến của Hải quân Mỹ và được đưa thẳng về Hải Phòng. Chia thành từng toán nhỏ, dưới bóng đêm dầy đặc, họ lẻn lên bờ, chia thành bốn nhóm, đi về phía các thành phố Hà Đông, Hải Phòng, Hà Nội và Sơn Tây.

Một tháng sau, thực hiện Hiệp định Geneva, lực lượng Việt Minh tiến vào tiếp quản Hải Phòng và các khu vực khác mà Pháp chiếm đóng ở vùng ven biển Bắc Việt Nam. Sau khi đã cài cắm hai mạng lưới gián điệp, đơn vị của Conein rút vào Sài Gòn.

Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố
Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố
Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam)
Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam)

Giờ đây ở phía sau chiến tuyến của cộng sản, các gián điệp của nhóm Binh bắt đầu thực hành những gì họ đã được huấn luyện. Nhóm hoạt động ở Hải Phòng phải chịu gánh nặng công việc lớn nhất và họ bắt đầu lấy các trang thiết bị đã được chôn giấu trước đó. Trong một thời gian ngắn, họ đã lặng lẽ lấy được toàn bộ điện đài và vũ khí đã cất giấu.

Trong những thứ được cung cấp, có cả loại chất nổ được chế tạo giống viên than mà trước đó Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã sử dụng để gây ra vụ nổ ở một xưởng đầu máy xe lửa của Hà Nội. Một gián điệp trong nhóm hoạt động ở Hải Phòng, Bùi Mạnh Hà, bí danh là Bosco, đã mua một chiếc xe tắc xi nhãn hiệu Citroen và bắt đầu vận chuyển trang thiết bị đến các địa điểm của nhóm Binh.

Tại Sài Gòn, rắc rối bắt đầu nhen nhóm, xuất phát từ thỏa thuận trước đây giữa Lansdale và ban lãnh đạo Đại Việt. Lansdale đã nói rằng mạng lưới gián điệp nằm vùng sau này sẽ nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương ở Sài Gòn. Đại Việt đã đồng ý với điều đó.

Thỏa thuận trên rất có ý nghĩa vào thời điểm lúc đó, bởi trong chính phủ Bảo Đại, có rất nhiều đại diện của Đại Việt tham gia, gồm cả hai bộ trưởng nội các. Nhưng đến đầu năm 1955, thành phần chính phủ đã có thay đổi lớn. Thủ tướng mới, Ngô Đình Diệm, là một viên quan trong triều đình cũ và theo đạo Thiên Chúa. Ông không cho phép cạnh tranh quyền lực. Ngay sau khi lên nắm quyền, ông liền kiên quyết thanh trừng các nhân vật của Đảng Đại Việt.

Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm

Đảng Đại Việt coi Diệm là một mối đe dọa, nhưng Lansdale lại ủng hộ ông ta. Giống như đối với Magsaysay ở Philippines, Lansdale đã lựa chọn một nhân vật chính trị đơn nhất có khả năng lãnh đạo để ủng hộ. Ông ta đã nhanh chóng đặt cược niềm tin của mình vào thành công của Diệm. Là một phần trong mối quan hệ thân thiết, Lansdale đã thông báo cho Diệm về sự tồn tại của các gián điệp của Đại Việt ở Bắc Việt Nam.

Biết được điều này, Diệm đòi hỏi phải có quyền điều hành mạng lưới gián điệp này. Bác sĩ Đặng Văn Sung, Tổng thư ký của Đại Việt liền phản đối, lập luận rằng các gián điệp được cài lại ở Miền Bắc là công cụ lâu dài để thúc đẩy sự nghiệp của Đại Việt, không phải công cụ của cá nhân của Tổng thống. Sung cho rằng Diệm sẽ không sử dụng đúng mục đích các gián điệp này:

Họ là điệp viên bí mật, hoạt động chống cộng sản. Nhiệm vụ chính của họ là tuyển mộ thêm người. Vì vậy, chúng tôi đã cử một nhóm thứ hai, gồm các đảng viên Đại Việt là người Miền Bắc di cư, sống xung quanh Sài Gòn, để đưa sang Saipan huấn luyện, đào tạo. Nhóm này bao gồm cả những người dân tộc thiểu số và dự kiến họ sẽ được đưa vào Miền Bắc để tăng cường cho mạng lưới hiện có. Người của Diệm không muốn gián điệp, họ chỉ muốn có biệt kích”.

Cuối cùng, hai bên đã đạt được một thỏa hiệp nhân nhượng. Sung được phép tiếp tục kiểm soát nhóm gián điệp thứ hai của Đại Việt được huấn luyện tại Saipan, những người này sau đó sẽ được giữ lại ở Sài Gòn để trở thành các cán bộ đảng. Tuy nhiên, Diệm sẽ nắm nhóm gián điệp thứ nhất và Sung hoàn toàn bị loại ra khỏi chương trình này.

Xem thêm: Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc “đi đêm” giữa Sài Gòn và Hà Nội

Sung bị thay bằng Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, người đứng đầu Lực lượng Cảnh sát Quốc gia mới. Lễ trước đây đã từng làm việc với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trong khi tổ chức thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans League), cho nên ông ta đã quen biết Lansdale. Với việc Tướng Lễ về danh nghĩa phụ trách chương trình này, Cao Xuân Tuyên, một quan chức Đại Việt phụ trách việc tuyển mộ, đã dùng điện đài thông báo cho nhóm Binh về những thay đổi mới trong hệ thống chỉ huy ở Sài Gòn. Leslie, thay mặt cho các gián điệp khác, đã hứa sẽ trung thành với Diệm.

Tướng Nguyễn Ngọc Lễ
Tướng Nguyễn Ngọc Lễ

Như Bác sĩ Sung đã e ngại trước đó, thay đổi này không chỉ là ngữ nghĩa. Theo điều hành của những người chỉ huy mới, các điệp viên nằm vùng được chỉ thị phải hoàn thành hai sứ mạng có vẻ không phù hợp nhau. Một mặt, họ được khuyến khích tiến hành các hoạt động biệt kích, thí dụ như các hoạt động phá hoại mà nhất định sẽ bị nhà cầm quyền chú ý. Mặt khác, họ được yêu cầu phải mở rộng mạng lưới gián điệp, một công việc chỉ có thể được hoàn thành trên cơ sở gây càng ít chú ý càng tốt.

Các điệp viên trong nhóm Binh tất nhiên tỏ ra do dự không muốn tiến hành hoạt động phá hoại, trừ một trường hợp ngoại lệ. Sử dụng chất nổ dạng viên than, điệp viên nhóm Binh đã đặt một viên than như vậy tại sân ga ở Hải Phòng. Sau này, theo tin từ hãng thông tấn chính thức của Hà Nội, do cảnh giác nên một công nhân đã phát hiện ra viên than đáng nghi ngờ đó trước khi nó phát nổ, gây thiệt hại.

Cũng có những nỗ lực tuyển mộ điệp viên mới. Dưới vỏ bọc là thợ sửa chữa xe đạp, Leslie báo cáo rằng anh ta đã tuyển mộ thêm hai người mới, vốn đều là thành viên của Đại Việt.

Từ Sài Gòn, Tướng Lễ và các đồng nghiệp người Mỹ của ông ta không ấn tượng lắm với những kết quả hạn chế đã đạt được cho đến lúc đó. Tồi tệ hơn nữa, một số sĩ quan CIA trong tòa Đại sứ Mỹ còn cho rằng họ đã phát hiện được những dấu hiệu cho thấy các điệp viên này hoạt động hai mang. Để kiểm tra, các sĩ quan này muốn đưa một trong các điệp viên nói trên vào Nam để thông báo tình hình.

Lansdale kịch liệt phản đối kế hoạch đó, sợ rằng việc đó sẽ làm lộ vỏ bọc của điệp viên và sẽ không thể đưa anh ta trở lại Miền Bắc được nữa. Nhưng, đúng vào lúc đó, Lansdale sắp sửa được luân chuyển về nước và việc đảm trách các hoạt động bán quân sự thuộc Phái đoàn Quân sự Sài Gòn được chuyển giao cho cơ quan CIA. Do quan hệ giữa Phái đoàn Quân sự Sài Gòn và cơ quan CIA chưa bao giờ là tốt, lời khuyên của Lansdale đã không được chú ý tới.

Một thành viên của nhóm hoạt động ở Nam Định bí danh là André đã xung phong vào Nam. Ngày 6 tháng 9 năm 1956, André đã lẻn vào Nam, đi dọc theo vùng cán xoong và vượt biên. Sau khi vào đến Sài Gòn, trong hai ngày liền, anh ta đã bị kiểm tra bằng phương pháp phát hiện nói dối. Sau khi CIA cảm thấy hài lòng với kết quả rằng anh ta không phải điệp viên hai mang, anh ta được thông báo về tình hình trong suốt chín ngày nữa, rồi được đưa trở lại miền Bắc với một lượng tiền lớn để phân phát cho các thành viên trong nhóm Binh.

Chuyến đi của André đã khôi phục niềm tin của CIA vào mạng lưới Binh, thậm chí làm cho cơ quan này bị mù tịt không biết gì về thực tế tình hình ở Bắc Việt Nam. Trong suốt một năm trời, các nhà chức trách cộng sản đã thắt chặt vòng vây đối với nhóm điệp viên này bắt đầu từ khi ba viên than chứa chất nổ bị phát hiện trong một đợt công an truy quét các phần tử buôn bán than trái phép. Khi cuộc điều tra lần theo nguồn gốc của chất nổ phát hiện ra một điệp viên của nhóm Binh, cơ quan tình báo Bắc Việt Nam đã thâm nhập được vào một phần của mạng lưới này. Trong số các điệp viên bị bắt có André.

Trong một thời gian ngắn, Hà Nội đã không dẹp toàn bộ hoạt động của Đại Việt, với hy vọng sẽ sử dụng nó để phục vụ cho mình. Trong mỗi nhóm gián điệp Binh có ít nhất một điệp viên vẫn được phép hoạt động dưới sự kiểm soát của Sài Gòn cho đến tận mùa thu năm 1958. Các nhóm này đã cùng nhau tuyển mộ thêm được ít nhất bảy người nữa, trong đó có một phụ nữ.

Sau đó, ngày 12 tháng 11 năm 1958, lực lượng an ninh của Bắc Việt Nam đã bắt toàn bộ số điệp viên còn lại trong nhóm Binh. Bosco, viên chỉ huy nhóm ở Hải Phòng vốn được huấn luyện tại Saipan, đã bị bắt khi một trong những người trong nhóm anh ta sử dụng điện đài giấu trong một chiếc bàn để chuyển một bức điện vào Sài Gòn. Tổng chỉ huy Leslie bị bắt ở Hà Nội trong khi một thành viên thứ ba, cũng được đào tạo ở Saipan, mật danh là Philip, bị bắt ở Nam Định.

Ngày 4 tháng Tư năm 1959, tòa án xét xử nhóm Binh được tổ chức ở Hà Nội. Mười nghi phạm bị đưa ra công khai trước công chúng. Bên cạnh phòng xử án, nhà chức trách Hà Nội cũng trưng bày trang thiết bị thu được từ nhóm Binh. Những thứ được trưng bày gồm súng tiểu liên giảm thanh, thuốc nổ, súng lục loại nhỏ dùng lò xo để nạp đạn giấu trong tuýp thuốc đánh răng, điện đài. (CIA đã không che giấu bằng chứng cẩn thận.

Trong khi các vũ khí không có nhãn mác gì, trên điện đài lại gắn mác, ghi rõ là của Binh chủng Thông tin của Lục quân Mỹ). Theo phương cách tuyên truyền mạnh mẽ điển hình, Hà Nội cũng đưa ra những bức ảnh chụp một gián điệp đang đọc tạp chí khiêu dâm với những bức hình các cô gái đẹp dán trên tường.

Sau 24 giờ nghị án, các bản án đã được đưa ra. Bảy người bị kết án tới mười năm tù. Philip, một gián điệp hoạt động ở Nam Định, bị mức án hai mươi năm tù. Bosco, hoạt động ở Hải Phòng, bị tù chung thân. Leslie, tổng chỉ huy ở Hà Nội, bị kết án tử hình. Theo đài phát thanh Hà Nội, một đám đông khoảng mười ngàn người bên ngoài phòng xử hoan nghênh các quyết định nói trên.

Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN)
Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN)
Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN)
Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN)

Nhóm Binh đã bị lộ tẩy, nhưng mạng lưới của nhóm Hao chỉ tồn tại mà hầu như không có hoạt động gì. Ngay từ đầu đã không suôn sẻ, người đứng đầu nhóm, Nguyễn Tiến Thành, đã bị mất liên lạc với phần lớn các thành viên trong nhóm. Do vậy, nhiều trang thiết bị của nhóm đã không bao giờ được tìm thấy. Tồi tệ hơn nữa, anh ta phải nhiều tháng mới có trả lời đầu tiên từ Sài Gòn bằng điện đài.

Theo những tường thuật của Hà Nội, Thành đã ra lệnh cho hai điệp viên “vào đầu tháng tám” (ngày cụ thể không được nêu) phải tìm đường vào Nam qua khu phi quân sự phân cách hai miền ở vĩ tuyến 17. Rõ ràng, Hà Nội có vẻ lúng túng khi tiết lộ chuyện này xảy ra vào tháng 8 năm 1963: bởi trong suốt tám năm trời, gián điệp của Quốc Dân Đảng đã hoạt động ở Bắc Việt Nam mà không bị phát hiện.

Năm 1963, cả hai điệp viên được lệnh tới khu phi quân sự đã hoảng sợ và quay trở lại Hải Phòng sau khi mới chỉ đi được một nửa đường. Sau đó ít lâu, một nhóm điệp viên khác của Quốc Dân Đảng cũng cố tìm cách đi sang phía Tây, đến vùng cao nguyên dọc biên giới với Lào để sống trong một buôn làng và lên kế hoạch cho các hoạt động chống lại chính phủ Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, cũng giống hai điệp viên trước, nhóm này đã rút ngắn chuyến đi và quay trở lại.

Đến năm 1964, vận may của cả nhóm đã chấm dứt. Năm đó, trong khi di dời một nghĩa trang cũ ở Hải Phòng, một nhóm công nhân xây dựng Bắc Việt Nam đã phát hiện một thùng chứa vũ khí. Hà Nội lập tức tiến hành điều tra và cuối cùng, mười gián điệp của Quốc Dân Đảng bị bắt và đưa ra xét xử một năm sau đó. Hai trong số này bị xử tử, số còn lại bị phạt tù.

Điều kỳ lạ là không có một lời nào nhắc tới số phận của mười một người khác trong mạng lưới nhóm Hao. Cho đến tận năm 1977, câu trả lời cho vấn đề trên mới được hé mở, qua phát biểu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong một hội nghị bí mật ở Hà Nội. Khi nói về vấn đề điều tra các đối tượng chính trị, ông Bộ trưởng có lỡ mồm đề cập một mạng lưới nằm vùng hoạt động cho đến tận giữa những năm 1970:

Năm 1974, Bộ đã triển khai đặc vụ để bắt liên lạc (với các điệp viên nằm vùng), thông qua sử dụng mật khẩu và dấu hiệu nhận biết để bắt liên lạc. Ngay lập tức, họ đã liên lạc được với nhau”.

Hai thập kỷ sau kế hoạch đầy tham vọng mà Phái đoàn Quân sự Sài Gòn triển khai nhằm do thám Bắc Việt Nam, mọi việc đã chấm dứt. Đã không còn ngựa thành Troia nào nữa.

——————-

Dương Văn Đoàn dịch (bài đăng trên Tạp chí Phương Đông số tháng 1-2021)

Lịch sử Việt Nam

Hôn nhân cận huyết hoàng tộc thời nhà Trần

Hôn nhân cận huyết, trực hệ cỡ 3 đời liên tục thời nhà trần chỉ có triều Trần mới có. Đến thời nhà Nguyễn thì thành đại kỵ, con cháu họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất, Tôn Nữ còn chẳng được lấy nhau, dù cách hàng chục đời.
730
Hôn nhân cận huyết hoàng tộc thời nhà Trần

Nhiều người cứ nghĩ là Trần Thủ Độ gian hùng, 1 tay gây dựng lên nhà Trần, nhưng không phải thế. Vai trò rất lớn là bà vợ ông, Trần Thị Dung (tên có thể không chính thức), sau được phong là Linh từ quốc mẫu. Bà này được sử sách chính thống ca ngợi hết lời vì có công đánh quân Nguyên.

Bà Dung nguyên là hoàng hậu, vợ vua Lý Huệ Tông, ông này đụt, nên bà Dung mới thông dâm được với EM HỌ MÌNH (con chú ruột) là Trần Thủ Độ. Huệ Tông bị Thủ Độ ép nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh, thành Lý Chiêu Hoàng. Rồi Chiêu Hoàng lại bị ép nhường ngôi cho Trần Cảnh, thành Trần Thái Tông. Hai vua này đều là trẻ trâu, vị thành niên. Huệ Tông sau khi mất ngôi thì xuất gia làm sư, rồi tự tử vì sợ Thủ Độ giết. 

Chiêu Thánh vì chậm có con nên bị phế, gả cho Lê Phụ Trần, 1 vị tướng. Sau đó bà lại có con! Chị ruột bà là Thuận Thiên công chúa, lúc đó và vợ Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh, đang có mang 2 tháng, bị dí làm hoàng hậu thay em. Vì thế nên mới có mối hận giữa Trần Liễu và Trần Cảnh. Liễu cay, đem quân đánh, mà thua nên rắp tâm nuôi dạy con là Quốc Tuấn để mưu làm phản.

Điều đáng nói và ít người để ý là bà Dung chính là mẹ đẻ của cả Thuận Thiên lẫn Chiêu Thánh công chúa. Tức là bà mẹ, đang là hoàng hậu, thì thông dâm với em con chú ruột, sau đó lấy luôn làm chồng và cùng chồng (Thủ Độ) gả bán 2 con gái riêng cho con trai của anh ruột mình (Trần Thừa). Hôn nhân cận huyết Dung – Độ là mở màn cho 1 chuỗi hôn nhân cận huyết sau đó của hoàng tộc nhà Trần. 

Sau đó, con gái Trần Liễu là Thiên Cảm lại lấy con trai Trần Cảnh là Trần Hoảng (Thánh Tông). Tức là chị lấy em họ con chú, đẻ ra Trần Khâm là vua Nhân Tông.

Ngược lại, Trần Quốc Tuấn, là con Trần Liễu, lại lén thông dâm với em con chú ruột (Trần Cảnh – Thái Tông) là công chúa Thiên Thành. Công chúa này đã có kế hoạch gả cho người khác, nên ông Tuấn nhân đêm hôm mới mò tới chịch 1 nhát đánh dấu, thế là lấy được vợ! 

Chưa hết, Thiên Thụy công chúa là con vua Thánh Tông, cũng được gả cho Trần Quốc Nghiễn, là con Quốc Tuấn. Tức là cháu nội Trần Liễu lấy cháu nội Trần Cảnh.

Mình mới soi mấy đời vua và khanh tướng đầu nhà Trần, có công lao to nhất về chống ngoại xâm. Các vua sau thì chả để ý nữa, nhưng chắc vẫn theo truyền thống hôn nhân cận huyết đó.

Ông Tuấn sau được SGK ca ngợi là gác thù nhà để đền nợ nước, chống ngoại xâm, tức là không làm phản. Nhưng mà xét mối quan hệ 2 nhà Thừa – Cảnh lấy nhau lẫn lộn chồng chéo như vậy thì làm phản thế nào nổi?!

Theo khoa học hiện đại thì hôn nhân cận huyết, trực hệ cỡ 3 đời liên tục như thế thì con cháu không thành quái thai là may.

Hôn nhận dạng này chỉ có triều Trần mới có. Đến thời nhà Nguyễn thì thành đại kỵ, con cháu họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất, Tôn Nữ còn chẳng được lấy nhau, dù cách hàng chục đời (về luật và khoa học là không sao).

SGK tô hồng nhà Trần, nhưng lẽ ra cũng phải đả động chút đến vấn đề này, vì nó trái đạo lý thời phong kiến cũng như trái khoa học.

Dương Quốc Chính

Nhân vật lịch sử

Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập: Người nước ngoài duy nhất được phong tặng AHLLVTND

Kostas Saratidis, tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Lập, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, chứng nhân lịch sử, một người lính da trắng của Bác Hồ.
802
Anh hùng LLVTND Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập

Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập: Một người lính da trắng của Bác Hồ

Bà con trong cộng đồng người Việt ở Thủ đô Athens gọi một người Hy Lạp với cái tên thân mật là “bác Lập”. Bà con cho biết hàng chục năm qua, ông đã tận tụy đóng góp công sức vào việc xây dựng, phát triển cộng đồng người Việt tại Hy Lạp. Ông là Kostas Saratidis, tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Lập, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, chứng nhân lịch sử, một người lính da trắng của Bác Hồ.

Anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis - Nguyễn Văn Lập
Anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập.

Tháng 2/1946, chàng thanh niên Hy Lạp Kostas Sarantidis có mặt trong đội quân viễn chinh của thực dân Pháp đổ bộ lên Sài Gòn. Anh nghe người Pháp nói lính lê dương Pháp sang Đông Dương để  “giải phóng” các xứ ở đây, chống phát xít Nhật. Nhưng sau đó anh nhanh chóng nhận ra tất cả những gì người Pháp nói chỉ là chém gió, những gì họ làm đó là tàn sát và xâm lược.

Sau này, ông nhớ lại:

Tuy mới 18 tuổi đời, chưa hiểu nhiều về cuộc sống và chính trị, nhưng với truyền thống yêu tự do của người dân Hy Lạp đã từng trải qua 400 năm dưới ách thống trị của quân Thổ Nhĩ Kỳ, sau nhiều đêm thức trắng, tôi quyết định đi theo Việt Minh, dù cũng chưa hiểu rõ Việt Minh là thế nào…”.

Thời gian đầu chiến sĩ “mắt xanh mũi lõ” Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm công tác địch vận tại Quảng Nam – Đà Nẵng. Đến cuối năm 1946, chiến sĩ Lập đã lôi kéo được tới 40 lính lê dương khác gia nhập đội quân cách mạng. Sau đó Lập được phiên vào biên chế Tiểu đội 3, Đại đội 39 do ông Đàm Quang Trung thời đó làm Đại đội trưởng. Chiến sĩ Lập đã chiến đấu dũng cảm như một người lính Cụ Hồ thực thụ trong suốt gần “9 năm làm một Điện Biên”.

Hòa bình lập lại tại miền Bắc, năm 1956 ông xuất ngũ rồi đi làm phiên dịch tiếng Đức ở nhà máy in Tiến Bộ. Thỉnh thoảng ông Lập còn được hãng phim truyện mời đi đóng phim. Năm 1958, ông kết hôn với một cô gái Hà Nội, người được ông mô tả là “cực xinh“, sinh được bốn người con, một trai ba gái, tất cả đều lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Bạch Nga và Nguyễn Thị Tự Do.

Hà Nội thời chiến tranh và bao cấp đã tôi luyện chàng trai người Hy Lạp trở thành một người Việt thực thụ, một người chồng người cha tận tụy cần mẫn với gia đình. Năm 1965, ông cùng vợ con trở về Hy Lạp qua con đường Sứ quán Hy Lạp tại Mátxcơva.

Cuộc sống bên Hy Lạp của ông cũng vất vả không kém, ông bảo : “Tôi đã mang vợ nước ngoài về thì không bao giờ bắt vợ đi làm. Tôi quyết tâm dù phải vất vả 18 thậm chí 24 tiếng mỗi ngày cũng phải làm để nuôi vợ con. Tôi suốt đời hy sinh cho… vợ con”. Về Hy Lạp ông làm nghề lái xe tải hạng nặng nhờ có bằng lái xe ở VN. Từ khi trở về, Nguyễn Văn Lập thường xuyên theo dõi tình hình chiến sự VN qua đài Trung Quốc phát bằng tiếng Pháp.

Thời điểm giải phóng miền Nam bác có vui mừng ?”  –  ông đáp “Mừng là thế nào, xúc động đến rụng rời chân tay đi ấy chứ

Viết sẵn di chúc trước khi sang Việt Nam

Cuối tháng 8/2013, Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập đáp chuyến bay từ Thủ đô Athens (Hy Lạp) sang Hà Nội dự lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân do Nhà nước Việt Nam trao tặng. Sang Việt Nam, Nguyễn Văn Lập như được về lại nhà mình, ông thấy khỏe ra nhiều. Ông cười bảo, lần này mới là lần thứ tám, ông sẽ tiếp tục đến Việt Nam và phấn đấu có tới 10 lần trở lại mảnh đất này. Cô con gái Bạch Tuyết đi cùng ba tuy bập bẹ chút ít tiếng Việt cũng kịp “tiết lộ” : “Gia đình cháu và bác sĩ không ai đồng ý để ba sang đợt này, nhưng ba cháu quyết tâm lắm, ba đã viết sẵn di chúc và bảo: Nếu có chết thì cũng nằm lại quê hương thứ hai!”. 

Nói tới 8 chuyến đi trở lại Việt Nam, tôi tò mò hỏi rằng, với mức lương hưu ít ỏi của mình, ông lấy đâu ra tiền để mua vé máy bay? Ông cười khà khà rồi nháy mắt kể: Mỗi sáng, vợ ông phát cho ông 3 euro để đi uống cà phê, ông đã “trốn” không uống mà để dành những đồng tiền ấy để mua vé.

Ông còn kể rằng lần nào trước khi sang Việt Nam, ông cũng viết di chúc để lại, dặn dò vợ con là nếu chẳng may có mệnh hệ gì thì dứt khoát không đưa ông về Hy Lạp mà hãy chôn cất ông ở Việt Nam, vì với ông, Việt Nam cũng chính là Tổ quốc, là quê hương như đất nước Hy Lạp mà ông đang sinh sống.

Có một chi tiết ấn tượng về ông, đó là khi được giới thiệu lên phát biểu, Kostas Sarantidis luôn kính cẩn cúi đầu chào trước tượng Bác, rồi bước đến bục phát biểu. “Tôi thích được gọi là Nguyễn Văn Lập hơn là Kostas Sarantidis. Bởi cái tên này gắn với những kỷ niệm không thể nào quên với nước Việt Nam của cụ Hồ. Các bạn Việt Nam đã giúp tôi hiểu thế nào là độc lập tự do”

Mỗi lần về Việt Nam, những đồng đội cũ chào đón ông không chỉ bằng tình đồng chí mà còn bằng tình anh em khiến ông thấy vô cùng ấm áp. Ông lại cùng các đồng đội cũ đi thăm và tặng quà, hỗ trợ tiền cho người dân Quảng Ngãi bị lụt bão, giúp các bệnh nhi ở Đà Nẵng, Hà Nội mổ tim từ tiền bán sách Tại sao tôi về với Việt Minh do ông viết. Để giúp đỡ các nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam, năm 2009, ông đã vận động thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam – Hy Lạp do ông làm chủ tịch để quyên góp gây quỹ.

Hiện nay gia đình ông có 8 cháu nội ngoại, sinh sống ở thủ đô Athens và các thành phố khác. Yêu và gắn bó với Việt Nam, Kostas Lập không chỉ đặt tên cho con mà đến cháu cũng lấy tên Việt (Nguyễn Phục Sinh, Nguyễn Hồ Minh…), thậm chí hòm thư báo trước cổng nhà trên đường phố Rodos ở thành phố Athens ông cũng ghi cả 2 cái tên Việt Nam và Hy Lạp: Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập.

Một lần khi PV hỏi ông về vấn đề biển đảo (Trung Quốc). Ông nói:  “Tôi bực mình lắm. Tôi không ngờ. Anh em mất ý nghĩa anh em, tình đống chí mất ý nghĩa tình đồng chí. Tôi ở xa, vẫn hy vọng TQ là 1 nước cộng sản, VN thì thế, nước XHCN như thế. Thực ra tôi biết từ lâu rồi, những cái hành động của TQ, tôi ko có gì lạ. Từ Bác Hồ năm 46, rồi hiệp định Geneva, rồi bài học vừa rồi mấy năm về trước, rồi Campuchia, vv… Đến cái bước này là tôi ko ngờ …

Phóng sự về anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập.

Thành Nguyễn

Nhân vật lịch sử

Họ gốc của Lý Thường Kiệt là họ Quách, không phải họ Ngô?

Hầu hết chúng ta ở đây đều đã được học về sự xuất chúng của Lý Thường Kiệt, và hiểu rằng họ gốc của ông không phải là họ Lý. Nhưng nhiều người lại hiểu sai rằng ông họ Ngô.
496
Họ gốc của Lý Thường Kiệt là họ Quách, không phải họ Ngô?

Sự ngộ nhận này rất phổ biến, trên mạng khi cần gọi họ tên thật người ta đa số nói Ngô Tuấn, báo chí nếu có nhắc thì cũng là Ngô Tuấn, website một số trường đặt tên ông khi khi viết thông tin về họ tên gốc cũng ghi họ ông là Ngô, tên Tuấn.

Nguồn gốc sự ngộ nhận Lý Thường Kiệt họ Ngô

Mình thử đi tìm nguồn gốc của thông tin Lý Thường Kiệt họ Ngô, thì đa số web cho rằng từ cuốn “Gia phả họ Ngô Việt Nam”, bia “thần phổ Lý Thường Kiệt” của Nhữ Bá Sỹ (Thanh Hóa), sách “Tây Hồ Chí”, văn trên chuông chùa An Xá (Long Biên) .

Mình chưa đọc sách “Gia phả họ Ngô Việt Nam“, nhưng trên wordpress của họ, họ thừa nhận đã dùng bia của Nhữ Bá Sỹ ở Thanh Hóa (”Ngoài ra một phần là dựa vào thần phả đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa,…”)

Nhưng bia “thần phổ Lý Thường Kiệt” của Nhữ Bá Sĩ này có niên đại cách thời nhà Lý… 800 năm (nhà Nguyễn). Thời gian quá xa, lại không có căn cứ nào từ thời Lý để viết, nên độ tin cậy cực thấp, thẳng thắn mà nói thì là bịa đặt. Nhà sử học Hoàng Xuân Hãn cũng nhân định:

Đoạn trên này, chép theo bia NBS (chú: Nhữ Bá Sĩ), là một bia mới dựng đời Tự Đức. Chắc rằng Nhữ Bá Sĩ chép theo thần phổ. Thần phổ phần nhiều là lời chép tục truyền hay lời bịa đặt, ta không thể hoàn toàn tin những chi tiết quá rõ ràng chép trong thần phổ.”

Còn sách “Tây Hồ chí” không ghi tác giả, niên đại viết, hiện nay đang bị nhiều nhà sử học nghi ngờ về độ tin cậy (viết sai thời gian dời đô của Lý Công Uẩn,v.v..) . Nhưng thời gian thì cũng mới, dù nhiều tranh cãi nhưng đa phần là từ thế kỷ 19, vẫn cách tới 800 năm.

Còn nếu văn trên chuông chùa An Xá, cũng tương tự, viết cách thời của Lý Thường Kiệt 500 năm (1690). Bài sắc viết về Lý Thường Kiệt thì có từ năm 1653 (“Ngày 22 tháng 3 năm Thịnh Đức thứ nhất (Đời vua Lê Thần Tông)…”)

Tóm lại, tất cả các nguồn trên có cùng 1 vấn đề – thời gian viết cách quá xa thời Lý Thường Kiệt, sớm nhất thì 500 năm, muộn nhất thì 800 năm => Độ tin cậy cực thì thấp.

Tượng đài Lý Thường Kiệt
Tượng đài Lý Thường Kiệt

Dẫn chứng đâu để nói Lý Thường Kiệt họ Quách?

Đó là từ tấm bia “Cự Việt Quốc Thái Úy Lý Công Thạch Bi Minh Tự” dựng từ thời Lý, lập khoảng năm 1159, viết về Thái úy Đỗ Anh Vũ, họ hàng của Lý Thường Kiệt. Đoạn quan trọng viết về dòng dõi của Lý Thường Kiệt như sau:

…Tổ bên ngoại của Thái úy (Đỗ Anh Vũ) là Thái úy Quách công triều Thái Tông, vốn là người ở huyện Câu Lậu, Tế Giang, sinh ra Thường Kiệt làm Thái úy triều Nhân Tông, được ban quốc tính là họ Lý…

(Nếu mọi người muốn đọc toàn bộ nội dung, cứ copy paste tên bia lên GG là ra, ngay trang đầu tiên).

Như vậy theo bia đá thời Lý này, Lý Thường Kiệt có họ gốc là Quách, chứ không phải họ Ngô, có cha từng là Thái úy đời vua Lý Thái Tông (1028-1054). Mà nếu cha của Lý Thường Kiệt từng làm quan triều vua Lý Thái Tông,, đó lại chính là thái úy Quách Thạch Ích. Sách Việt Sử Lược chép (Phần quyển II, trang 44):

Năm Mậu Tý (năm 1048) Nùng Trí Cao ở động Vật Ác làm phản, vua sai Võ Oai Hầu và quan Thái uý là Quách Thạch Ích đi đánh dẹp ..

Mặc dù trên wikipedia viết về việc Lý Thường Kiệt họ Quách, tên Tuấn còn lấy dẫn chứng từ An Nam Chí Lược hay 1 bia khác là An Hoạch Sơn Báo Ân Tự Ký, nhưng mình đã kiểm chứng 2 nguồn trên và không tìm được thông tin nào nhắc đến việc này (cả họ lẫn tên).

Kết luận

Đối chiếu thông tin bia “Cự Việt Quốc Thái Úy Lý Công Thạch Bi Minh Tự”, với niên đại rất gần với Lý Thường Kiệt (sau năm ông mất 54 năm) với sách Việt Sử Lược thì đây vẫn là dẫn chứng đáng tin cậy nhất.

Mình rất tự tin vào các dẫn chứng trên và mong mọi người hãy chia sẻ để giúp mọi người “giải độc” thông tin sai, có thể là trong giờ Lịch Sử có nội dung về Lý Thường Kiệt, các bài viết có liên quan, v.v…

Lê Hoàng